Hội thảo khoa học Đề án PBGDPL cho đồng bào dân tộc thiểu số (Bộ Dân tộc và Tôn giáo)Việc triển khai Bộ Tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác PBGDPL trong giai đoạn thí điểm đã phản ánh bức tranh toàn diện về những nỗ lực đổi mới, kết quả đạt được cũng như định hướng hoàn thiện trong thời gian tới.
Ở cấp Trung ương, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã chủ động triển khai Thông tư số 03/2018/TT-BTP, Quyết định số 979/QĐ-TTg cùng các văn bản liên quan đến các đơn vị trực thuộc. Điểm đột phá nằm ở việc Bộ đã xây dựng Bộ Tiêu chí riêng phù hợp với đặc thù công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo thay vì áp dụng một khuôn mẫu chung. Cách làm này thể hiện tư duy quản lý linh hoạt, bám sát thực tiễn. Thông tin từ Vụ Pháp chế (Bộ Dân tộc và Tôn giáo) cho biết: Ở cấp địa phương, các tỉnh, thành phố được lựa chọn thí điểm bao gồm Hà Nội, Bắc Ninh, Lào Cai và Nghệ An đã cụ thể hóa chỉ đạo bằng các kế hoạch hành động chi tiết. Sở Dân tộc và Tôn giáo các địa phương đã tiến hành khảo sát nhu cầu thông tin pháp luật của người dân trước khi lựa chọn hình thức tuyên truyền. Việc xuất phát từ nhu cầu thực tế giúp nội dung truyền tải sát thực, khắc phục triệt để tình trạng “nói điều chính quyền có mà không nói điều dân cần”.
Qua triển khai thí điểm tại 04 địa phương ghi nhận có Thành phố Hà Nội, tỉnh Lào Cai và Nghệ An tập trung tổ chức hội nghị tuyên truyền trực tiếp cho cán bộ cơ sở, người có uy tín và người dân. Mô hình này giúp truyền tải thông tin nhanh chóng, diện rộng. Còn tỉnh Bắc Ninh kết hợp hội nghị với việc duy trì hoạt động của các câu lạc bộ pháp luật, tạo môi trường sinh hoạt bền vững và tăng khả năng lan tỏa lâu dài trong cộng đồng.
Kết quả đánh giá và bài học từ thực tiễn Lào Cai
Kết quả chấm điểm theo Bộ Tiêu chí phản ánh rõ năng lực và phương thức triển khai của từng địa phương. Lào Cai dẫn đầu với 89/100 điểm, tiếp theo là Hà Nội đạt 80/100 điểm và Bắc Ninh đạt 73/100 điểm. Xét theo từng nhóm tiêu chí, Hà Nội thể hiện ưu thế ở nhóm quản lý nhà nước nhờ công tác lập kế hoạch và bố trí nguồn lực tốt. Trong khi đó, Lào Cai nổi bật ở nhóm kết quả đầu ra, chứng minh tác động trực tiếp của hoạt động PBGDPL đến đối tượng thụ hưởng. Bắc Ninh đạt điểm thấp hơn do chịu ảnh hưởng từ việc sắp xếp bộ máy và thay đổi nhân sự.
Điểm đáng chú ý nhất là cách làm của Lào Cai. Tỉnh này tổ chức theo quy trình khá bài bản: khảo sát nhu cầu trước, rồi tổ chức hội nghị, sau đó khảo sát đầu ra bằng các câu hỏi kiểm tra kiến thức cụ thể. Đây là phương pháp đánh giá rất đáng học hỏi, vì nó không chỉ hỏi người dân có “hài lòng” hay “nắm được” hay không, mà kiểm tra xem họ thực sự hiểu gì, nhớ gì và có thể vận dụng ra sao. Với đối tượng chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông, cách đánh giá bằng câu hỏi đúng/sai theo chuyên đề là phù hợp hơn cả, vì người dân có thể gặp khó khăn về ngôn ngữ nhưng vẫn có thể trả lời chính xác khi nội dung được truyền đạt rõ ràng, ngắn gọn và trực quan. Nhờ cách làm này, Lào Cai đạt tỷ lệ trả lời đúng cao, cho thấy hiệu quả thực chất của hoạt động PBGDPL.
Đối với đồng bào dân tộc Mông, rào cản ngôn ngữ là một thách thức lớn. Việc sử dụng bài kiểm tra ngắn gọn, trực quan giúp đánh giá chính xác mức độ tiếp cận thực tế của người dân thay vì chỉ thu thập ý kiến "hài lòng" mang tính cảm tính.
Định hướng hoàn thiện Bộ Tiêu chí đánh giá
Qua quá trình thí điểm, tiêu chí đánh giá cần điều chỉnh. Trước hết là tiêu chí về khảo sát nhu cầu trước khi xây dựng kế hoạch. Đây là tiêu chí đúng đắn, cần được giữ và tăng vai trò hơn nữa, vì khảo sát nhu cầu giúp bảo đảm nội dung tuyên truyền bám sát thực tiễn. Tuy nhiên, nên bổ sung thêm việc đánh giá xem kết quả khảo sát đã ảnh hưởng thế nào đến việc lựa chọn nội dung PBGDPL, để tránh biến khảo sát thành thủ tục hình thức.
Tiếp theo là tiêu chí về bảo đảm nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực người dân tộc thiểu số hoặc biết tiếng dân tộc. Thực tế cho thấy đây là yếu tố rất quan trọng ở vùng cao. Cán bộ hiểu pháp luật nhưng không hiểu ngôn ngữ, phong tục, tập quán thì khó truyền đạt hiệu quả. Vì vậy, cần tách riêng tiêu chí về bố trí nhân lực DTTS và vai trò cụ thể của họ trong dẫn dắt, phiên dịch hoặc tổ chức hoạt động tuyên truyền. Đồng thời, nên bổ sung tiêu chí về tỷ lệ hoạt động PBGDPL được thực hiện bằng tiếng dân tộc hoặc song ngữ.
Một tiêu chí khác cần xem xét lại là xã hội hóa/lồng ghép nguồn lực. Với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, việc huy động nguồn lực xã hội hóa như luật sư, luật gia thường rất khó khăn. Do đó, tiêu chí này cần điều chỉnh cho phù hợp với đặc thù đối tượng và địa bàn đánh giá. Báo cáo đề xuất nên nghiên cứu điều chỉnh bằng việc đánh giá mức độ huy động người có uy tín, già làng, trưởng thôn, chức sắc tôn giáo tham gia PBGDPL. Đây là hướng đi rất thực tế vì họ là những người có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng.
Tiêu chí về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số cũng cần được điều chỉnh. Hiện nay, Bộ Tiêu chí chủ yếu chỉ đánh giá theo việc có trang thông tin điện tử là chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới. Nhiều người dân vùng dân tộc thiểu số lại tiếp cận thông tin qua loa truyền thanh, mạng xã hội, video ngắn, clip song ngữ hơn là qua website. Vì vậy, cần chuyển sang đánh giá theo mức độ tiếp cận thực tế: số video bằng tiếng dân tộc, số bài đăng trên mạng xã hội, số nội dung phát qua loa cơ sở, hoặc số học liệu số phục vụ tuyên truyền pháp luật.
Ông Phí Mạnh Thắng, Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Dân tộc và Tôn giáo) chia sẻ thông tin với báo chíThách thức và giải pháp căn cơ
Ông Phí Mạnh Thắng, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, cho biết: Quá trình triển khai thí điểm cũng đối mặt với không ít khó khăn khách quan như việc sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp trong năm 2025 và giai đoạn đầu triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia mới năm 2026 đã tác động đến tiến độ cũng như nguồn kinh phí phân bổ. Bên cạnh đó, hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ và trình độ dân trí không đồng đều tiếp tục là những rào cản lớn.
Để khắc phục các hạn chế này, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã kiến nghị Bộ Tư pháp sớm tổng kết giai đoạn thí điểm, hoàn thiện bộ tiêu chí chuẩn hóa áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Đồng thời, cần lồng ghép kết quả đánh giá PBGDPL vào cơ chế theo dõi thi hành pháp luật chung, kết hợp xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu để số hóa toàn bộ quy trình khảo sát và chấm điểm.
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được tiếp cận theo hướng mở, lấy người dân làm trung tâm và đo lường bằng kết quả thực chất. Những bài học từ giai đoạn thí điểm sẽ là nền tảng vững chắc để đưa chủ trương, chính sách pháp luật đi sâu vào đời sống, góp phần giữ vững an ninh trật tự và phát triển kinh tế - xã hội bền vững./.