Bộ đội Biên phòng với đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây NguyênTừ khóa: Tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Đối ngoại nhân dân; Tổ chức tôn giáo; Đấu tranh phản bác.
1. Nhận diện âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo để chống phá
Thứ nhất, thường xuyên xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Chúng cố tình bóp méo tình hình thực tiễn, vu cáo Việt Nam, nhận định thiếu khách quan, một chiều, như: “Việt Nam đàn áp tôn giáo”, “Việt Nam vi phạm tự do tín ngưỡng, không có tự do tín ngưỡng, tôn giáo”, “hạn chế quyền con người”, “đàn áp dân tộc thiểu số theo tôn giáo”,... Thông tin thiếu chính xác này thường xuyên được lặp lại nhiều lần, có chủ đích để truyền thông quốc tế đưa tin, một số tổ chức nhân quyền, nghị sĩ nước ngoài sử dụng, từ đó gây áp lực ngoại giao với Việt Nam. Chúng đánh tráo khái niệm giữa việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật với cái gọi là “đàn áp tôn giáo”, nhằm tạo nhận thức sai lệch trong dư luận quốc tế.
Các tổ chức phản động lưu vong và các phần tử chống đối trong và ngoài nước lợi dụng các báo cáo về nhân quyền, tự do tôn giáo của một số quốc gia, tổ chức quốc tế được xây dựng bằng những thông tin bị bóp méo, không có xác thực, không được kiểm chứng, dựa trên những chứng cứ bịa đặt, có dụng ý xấu nhằm vào Việt Nam, để làm căn cứ, nhằm thao túng tâm lý, tạo dựng niềm tin mơ hồ về sự can thiệp từ bên ngoài, từ đó lôi kéo một bộ phận quần chúng thiếu thông tin tin vào sự giúp đỡ, can thiệp của các quốc gia này, qua đó lôi kéo lực lượng tham gia chống phá. Một trong số đó là báo cáo thường niên hằng năm (nhất là từ năm 2022 đến nay) của Ủy ban Tự do tôn giáo Quốc tế Mỹ (USCIRF) có rất nhiều nội dung, nhận định, dẫn chứng không được kiểm chứng, không có xác thực, dựa trên cung cấp thông tin một chiều, bịa đặt đang được các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị lợi dụng triệt để để chống phá Việt Nam, nhất là việc đề nghị đưa Việt Nam vào danh sách “quốc gia quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo” của báo cáo.
Thứ hai, tìm cách móc nối, liên hệ, xây dựng lực lượng, tìm kiếm hậu thuẫn trong việc chống phá. Các đối tượng thù địch thường xuyên theo dõi, lợi dụng các vấn đề liên quan đến đất đai, sinh hoạt tôn giáo, dân tộc thiểu số hoặc một số vụ việc phức tạp để tập hợp lực lượng, kích động chống đối… Qua đó, kêu gọi chính giới phương Tây, các tổ chức nhân quyền can thiệp, gây sức ép về chính trị, đối ngoại với Việt Nam; kêu gọi người dân biểu tình phản đối, mưu đồ gây mất ổn định xã hội, phá hoại trật tự trị an.
Thứ ba, sử dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nền tảng truyền thông số, truyền thông xã hội để chống phá. Các đối tượng phản động, chống phá triệt để lợi dụng không gian mạng để phát tán thông tin sai lệch về tình hình tôn giáo ở Việt Nam. Thông qua các nền tảng số, truyền thông xã hội như Facebook, YouTube, TikTok, blog cá nhân và các trang web phản động để thường xuyên đăng tải thông tin, bình luận, lan truyền những thông tin thất thiệt, bài phát biểu, báo cáo, bảng xếp hạng không khách quan, thiếu chính xác để chỉ trích tình hình bảo vệ quyền con người và tự do tôn giáo tại Việt Nam.
Chúng tận dụng các nền tảng truyền thông số để đăng tải, phát tán các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin tiêu cực của các tổ chức, cá nhân “tự phong” là “những nhà hoạt động dân chủ”, “những người đấu tranh vì quyền con người”; tích cực thiết lập các hội, nhóm cá nhân dưới danh nghĩa “tổ chức xã hội dân sự”, “vì nước, vì dân”, “các tổ chức anh em yêu nước”, “nhân sĩ, trí thức yêu nước”, đăng tải bài viết, video có nội dung xuyên tạc, cắt ghép hình ảnh nhằm kích động tâm lý bất mãn, gây hoài nghi trong quần chúng nhân dân… tạo ra một mạng lưới dày đặc các tài khoản, liên thông, liên kết, thúc đẩy tương tác lẫn nhau.
Thứ tư, lợi dụng vấn đề dân tộc gắn với tôn giáo nhằm kích động ly khai, tự trị ở một số địa bàn chiến lược, có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, tiêu biểu như ở Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ. Chúng hậu thuẫn cho các tổ chức bất hợp pháp, kích động thành lập “nhà nước riêng” hoạt động dưới danh nghĩa các tổ chức tôn giáo để truyền bá mê tín dị đoan, phủ nhận chính quyền cơ sở, lôi kéo người dân tham gia các hoạt động trái pháp luật, kích động phá hoại, gây phức tạp tình hình an ninh, trật tự xã hội với luận điệu phổ biến như: “Tự do tôn giáo ở Tây Nguyên”, “đất Tây Nguyên là của người Thượng”,…
2. Thực tiễn hoạt động đối ngoại nhân dân của các tổ chức tôn giáo
Thứ nhất, là kênh quảng bá, cầu nối tăng cường hiểu biết quốc tế về Việt Nam. Tôn giáo có tính phổ quát và xuyên quốc gia, với mạng lưới liên kết rộng lớn trên toàn thế giới. Thông qua giao lưu tôn giáo, đối thoại liên tôn giáo, hợp tác nhân đạo, giao lưu văn hóa, tham gia diễn đàn quốc tế,… cộng đồng quốc tế có điều kiện trực tiếp tiếp cận thực tế đời sống tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam thay vì chỉ tiếp nhận thông tin phiến diện, một chiều từ các nguồn thiếu khách quan, thiếu kiểm chứng, không tích cực. Đây là cơ sở có sức thuyết phục cao trong đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc về tình hình tôn giáo ở Việt Nam.
Thực tế, đa số tổ chức tôn giáo ở Việt Nam ngày càng có uy tín, vị thế trong cộng đồng tôn giáo thế giới và khu vực, có mối quan hệ quốc tế rộng rãi; hoạt động giao lưu, hợp tác, quốc tế ngày càng sâu rộng, đẩy mạnh, với nhiều hình thức đa dạng, phong phú như hiện nay chính là được Nhà nước tạo điều kiện, hỗ trợ.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam có mối quan hệ với tất cả Phật giáo các nước châu Á và khu vực; là thành viên sáng lập, thành viên của nhiều tổ chức Phật giáo quốc tế và thế giới có uy tín. Giáo hội Công giáo Việt Nam trong mối quan hệ với giáo triều Vatican và Công giáo các quốc gia ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ La-tinh, châu Đại Dương. Các Hội thánh Tin Lành Việt Nam trong mối quan hệ với Tin Lành các nước Tây Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ và Hàn Quốc. Cộng đồng Hồi giáo ở Việt Nam trong mối quan hệ với Hồi giáo các nước Đông Nam Á - ASEAN, Trung Cận Đông, Tây Á, Bắc Phi, Nam Á...
Đăng cai và tổ chức thành công nhiều sự kiện, hoạt động tôn giáo quốc tế, mang tầm vóc thế giới, khu vực, với sự tham gia của nhiều người đứng đầu, chức sắc cao cấp của các tôn giáo các nước và nguyên thủ nhiều quốc gia, được dư luận quốc tế đánh giá cao. Điển hình như Giáo hội Công giáo Việt Nam tổ chức: Hội nghị Liên hội đồng Giám mục Á châu (năm 2012, 2023), Đại hội của Tổng hội Dòng Đa minh Thế giới (năm 2019), Hội nghị Bề trên vùng Á - Úc năm 2020 của Dòng Chúa Cứu thế Việt Nam (dòng có nhiều chức sắc cực đoan chống đối), Hội nghị vùng Đông Á - châu Đại Dương năm 2024 của Dòng Don Bosco thế giới… Giáo hội Phật giáo Việt Nam 4 lần tổ chức Đại lễ Phật đản Liên Hợp quốc - Vesak (năm 2008, 2014, 2019, 2025), đạo Tin Lành tổ chức 100 năm Tin Lành vào Việt Nam,...
Thứ hai, tạo sự đồng thuận và tranh thủ dư luận quốc tế thông qua các chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người có uy tín trong tôn giáo. Đây là lực lượng quan trọng trong công tác đối ngoại nhân dân; họ là người có uy tín xã hội, ảnh hưởng lớn trong cộng đồng tôn giáo, có mối quan hệ rộng với các tổ chức tôn giáo quốc tế. Với vị thế đặc biệt đó, họ không chỉ thực hiện hoạt động tôn giáo mà còn trở thành những “sứ giả” trong đối ngoại nhân dân.
Thông qua các hoạt động giao lưu, đối thoại và hợp tác quốc tế, các chức sắc, chức việc, nhà tu hành góp phần: tăng cường hiểu biết giữa Việt Nam với cộng đồng quốc tế; quảng bá chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước; lan tỏa hình ảnh tích cực về đất nước, con người Việt Nam.
Trong nhiều trường hợp, tiếng nói của các chức sắc, nhà tu hành mang tính thuyết phục xã hội sâu rộng, góp phần tạo dựng niềm tin, sự đồng thuận quốc tế đối với chính sách tôn giáo của Việt Nam. Đây là ưu thế rất đặc biệt của đối ngoại tôn giáo so với các hình thức tuyên truyền hành chính đơn thuần.
Hiện nay, các tôn giáo ở Việt Nam có một lực lượng chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ và tổ chức, cơ sở thờ tự trực thuộc đáng kể ở nước ngoài; có mối quan hệ gắn bó với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài theo tôn giáo với khoảng 5 triệu người tại 130 quốc gia, vùng lãnh thổ.
Trong đó, Phật giáo có: 22 hội phật tử Việt Nam trực thuộc, 400 ngôi chùa người Việt tại 33 quốc gia và vùng lãnh thổ, với hàng trăm chức sắc; Công giáo có khoảng 1 triệu tín đồ là người Việt Nam, thành lập được 300 cộng đoàn ở 39 quốc gia, với hàng trăm linh mục, tu sĩ; Tin Lành có 530 cơ sở hội thánh, điểm nhóm người Việt Nam ở nước ngoài; Cao Đài có 32 nghìn chức sắc, tín đồ sinh hoạt tại 59 cơ sở thờ tự ở nước ngoài (chủ yếu ở Mỹ)....
Từ năm 2011-2022, có khoảng 2.000 lượt cá nhân tôn giáo ra nước ngoài tham gia học tập, hội nghị, hội thảo liên quan đến tôn giáo; gần 500 đoàn nước ngoài, với hơn 3.000 lượt người vào Việt Nam giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực tôn giáo...[4].
Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân tôn giáo ở Việt Nam còn tích cực tham gia các hội nghị, diễn đàn tôn giáo khu vực và thế giới (Đối thoại liên tín ngưỡng Á - Âu: 5 lần; Đối thoại liên tín ngưỡng khu vực châu Á - Thái Bình Dương: 6 lần…); kêu gọi được 72 tổ chức có nguồn gốc hoặc liên quan đến tôn giáo vào Việt Nam hoạt động về y tế, giáo dục - đào tạo, bảo trợ trẻ em, hỗ trợ chương trình phát triển kinh tế, xã hội[4];...
Thứ ba, góp phần đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Vấn đề lợi dụng tôn giáo được các thế lực thù địch sử dụng bằng nhiều phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn như một số nhận diện trên đã nêu. Mục tiêu của chúng không chỉ xuyên tạc chính sách tôn giáo mà sâu xa hơn là gây mất ổn định chính trị, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Trong bối cảnh đó, phát huy vai trò của tôn giáo trong đối ngoại nhân dân không chỉ là yêu cầu của công tác tôn giáo mà còn là nhiệm vụ quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ hình ảnh quốc gia, lợi ích dân tộc.
Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, cơ sở đào tạo chức sắc được thành lập ngày càng nhiều; số lượng chức sắc, nhà tu hành, tín đồ ngày càng tăng; cơ sở tôn giáo được cấp đất xây dựng mới ngày càng nhiều, được tu sửa khang trang, mở rộng hơn. Năm 2003, cả nước chỉ có 15 tổ chức tôn giáo thuộc 6 tôn giáo, với 20,6 triệu tín đồ, đến năm 2025, cả nước có 41 tổ chức đã được Nhà nước công nhận thuộc 16 tôn giáo, khoảng 27.382.746 tín đồ. Từ năm 2018 đến năm 2025, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã công nhận 3 tổ chức tôn giáo; chấp thuận thành lập 5 cơ sở đào tạo tôn giáo, nâng tổng số lên 63 cơ sở…
Các ngày lễ trọng của các tôn giáo không chỉ có đông đảo chức sắc, tín đồ, người dân tham gia mà có hàng vạn lượt chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ người nước ngoài cùng tham gia, nhiều cuộc lễ đã trở thành lễ chung của cộng đồng.
Hoạt động tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được tạo điều kiện, bảo hộ. Từ khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2016) có hiệu lực, có hơn 125 lượt chức sắc là người nước ngoài vào Việt Nam để hướng dẫn tôn giáo cho các nhóm tín đồ người nước ngoài[4].
Mối quan hệ Việt Nam - Tòa thánh Vatican đã có bước tiến triển tích cực. Đến nay, Tòa thánh Vatican đã có Đại diện Thường trú tại Việt Nam; lần đầu tiên Tòa thánh cử Bộ trưởng Bộ Ngoại giao sang Việt Nam (năm 2024)…
Các tôn giáo tham gia tích cực vào hoạt động an sinh xã hội, từ thiện nhân đạo, y tế, giáo dục. Hoạt động này không chỉ tích cực diễn ra trong nước, mà còn được thực hiện ở nước ngoài, như: Giáo hội Phật giáo Việt Nam cuối năm 2025 đến thăm và ủng hộ tiền cho Nhân dân Sri Lanka khắc phục hậu quả bão Ditwah; tham gia cứu trợ nạn nhân sóng thần ở Đông Nam Á, động đất ở Nepal, hỗ trợ xây dựng trường học tại Thủ đô Viêng Chăn (nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào), thông qua các chùa ở nước ngoài khám Đông y miễn phí và mở lớp học cho người nghèo…
Những thành tựu trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cùng sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế về tôn giáo nêu trên chính là minh chứng sinh động, không thể chối cãi về sự tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam; cho thấy bản chất xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, tự do tôn giáo của các thế lực thù địch. Việc xử lý các đối tượng lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật là nhằm bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội và lợi ích chung của quốc gia, không phải là “đàn áp tôn giáo”.
3. Một số nhiệm vụ, giải pháp trong tình hình mới
Thứ nhất, tiếp tục rà soát, hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế hội nhập quốc tế; bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo đúng quy định của pháp luật. Sớm ban hành nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2026), đồng thời tuyên truyền, phổ biến kịp thời Luật trước khi có hiệu lực vào ngày 01/01/2027.
Thứ hai, phát huy tốt các nguồn lực tích cực của tôn giáo, mối quan hệ quốc tế của tổ chức, cá nhân tôn giáo, đồng thời, tiếp tục tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tôn giáo tham gia giao lưu quốc tế, giới thiệu những thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Thứ ba, kịp thời đấu tranh với âm mưu của các thế lực thù địch, phản bác các luận điệu xuyên tạc về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, nhất là trên không gian mạng. Các lực lượng chức năng cần phối hợp chặt chẽ với các tổ chức tôn giáo trong tuyên truyền, cung cấp thông tin chính thống…, qua đó giúp người dân nhận thức rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc của các thế lực thù địch.
Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế trong giám sát và chia sẻ thông tin nhằm ngăn chặn các thế lực thù địch, phản động, tội phạm lợi dụng tôn giáo để chống phá, khủng bố, rửa tiền,...
Thứ năm, tiếp tục củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo; chăm lo phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có đông đồng bào tôn giáo sinh sống, qua đó hạn chế điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng kích động chống phá.
4. Kết luận
Việc nhận diện đúng âm mưu, thủ đoạn của các đối tượng phản động; đồng thời phát huy vai trò tích cực của các tôn giáo trong hoạt động đối ngoại nhân dân không chỉ góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mà còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, cần được nhìn nhận như một hình thức “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” trên mặt trận tư tưởng, văn hóa và thông tin đối ngoại, là yêu cầu chiến lược trong bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trong tình hình mới .
* Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc và Tôn giáo, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
Tài liệu tham khảo
1. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2016, 2026), Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi).
2. Ban Dân vận Trung ương (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác dân vận trong tình hình mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3. Bộ Ngoại giao (2023), Ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại vì hòa bình và phát triển bền vững, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
4. Ban Tôn giáo Chính phủ (2022), Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Tôn giáo.
5. ThS. Lê Minh Khánh (2026), Đối ngoại tôn giáo ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với công tác dân vận, Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo - Số 6[9], tr.27-30.
6. Tổng hợp theo Báo cáo số 3257/BC-BDTTG, ngày 31/12/2025, của Bộ Dân tộc và Tôn giáo về tổng kết thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
7. Theo Báo cáo Đề án 354 (năm 2024) do Ban Dân vận Trung ương (trước đây) chủ trì.