Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Lạng Sơn: Để rừng không chỉ xanh mà còn tạo ra sinh kế

Trí Dũng - 16:22, 09/09/2026

(DTTG) - Tiểu dự án 1 Dự án 3 thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình MTQG 1719) đã góp phần làm cho những cánh rừng ở Lạng Sơn thêm xanh hơn. Tuy vậy, để màu xanh ấy thực sự trở thành sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số thì vẫn còn một chặng đường dài phía trước.

Người dân Lạng Sơn kết hợp trồng cây khôi nhung dưới tán rừng hồi mang lại thu nhập cao
Người dân Lạng Sơn kết hợp trồng cây khôi nhung dưới tán rừng hồi mang lại thu nhập cao

Đến năm 2025, tổng diện tích rừng hiện có của tỉnh Lạng Sơn là 534,26 nghìn
ha, trong đó rừng tự nhiên 219,148 nghìn ha (chiếm 41,02%), rừng trồng 315,111
ha (chiếm 58,98%). Lạng Sơn có tài nguyên rừng tương đối đa dạng, với độ che phủ rừng năm 2025 là 64,3%, tăng 1,31% so với năm 2020. Tuy vậy, chất lượng rừng của tỉnh không cao. Rừng tự nhiên trên địa bàn tỉnh chủ yếu là rừng nghèo và nghèo kiệt, chiếm 75,44% tổng diện tích rừng tự nhiên. Các khu rừng tự nhiên giàu gỗ quý như nghiến, đinh, lim... chỉ còn rất ít ở các khu giáp ranh với tỉnh Thái Nguyên và tại khu rừng đặc dụng Hữu Liên. Rừng trồng chiếm tỷ lệ khá lớn, đạt 48,7% tổng diện tích đất có rừng trên địa bàn tỉnh, phân bố trong toàn tỉnh, với các loài cây trồng chính gồm: thông, hồi, keo, bạch đàn.

Tài nguyên rừng có vai trò quan trọng không chỉ trong phát triển kinh tế mà còn góp phần bảo vệ cảnh quan môi trường, giảm nhẹ thiên tai, phòng chống xói lở và giúp giữ vững cân bằng sinh thái cho tỉnh Lạng Sơn và cả vùng Đông Bắc. Nhưng nếu chỉ yêu cầu người dân giữ rừng mà chưa tạo được lợi ích kinh tế tương xứng từ việc đó thì mục tiêu phát triển bền vững sẽ khó đạt được triệt để. Đó cũng chính là tinh thần mà Dự án 3: Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững, phát huy tiềm năng, thế mạnh của các vùng miền để sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị thuộc Chương trình MTQG 1719 hướng tới giải quyết.

Theo thiết kế, các nội dung hỗ trợ trong Tiểu dự án 1 gồm: Hỗ trợ khoán bảo vệ rừng đối với diện tích rừng Nhà nước giao cho Ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ được Nhà nước giao cho các tổ chức kinh tế theo quy định hiện hành; diện tích rừng tự nhiên do Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp quản lý; Hỗ trợ bảo vệ rừng đối với rừng quy hoạch là rừng phòng hộ và rừng sản xuất là rừng tự nhiên đã giao cho cộng đồng, hộ gia đình; Hỗ trợ khoanh nuôi tái sinh có trồng rừng bổ sung. 

Đối với diện tích đất được quy hoạch phát triển rừng sản xuất đã giao ổn định, lâu dài cho hộ gia đình được hỗ trợ một lần cho chu kỳ đầu tiên để trồng rừng sản xuất bằng loài cây lấy gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ; Hỗ trợ trồng rừng phòng hộ đối với diện tích đất được quy hoạch trồng rừng phòng hộ đã giao cho hộ gia đình theo quy định hiện hành. Hộ gia đình được hưởng lợi từ rừng theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp và các quy định có liên quan; Trợ cấp gạo cho hộ gia đình nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số tham gia bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng có trồng bổ sung, trồng rừng sản xuất, phát triển lâm sản ngoài gỗ, trồng rừng phòng hộ. 

Đây là cách tiếp cận đúng, coi đồng bào dân tộc thiểu số, hộ gia đình người Kinh nghèo đang sinh sống ổn định tại các xã khu vực II, III thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vừa là chủ thể bảo vệ tài nguyên rừng, vừa là chủ thể hưởng lợi từ tài nguyên đó.

Vẻ đẹp của những cánh rừng tự nhiên ở Lạng Sơn
Độ che phủ rừng năm 2025 ở Lạng Sơn là 64,3%

Thực hiện Tiểu dự án 1 trong giai đoạn 2021-2025, tỉnh Lạng Sơn đã hỗ trợ bảo vệ rừng đối với rừng quy hoạch là rừng phòng hộ và rừng sản xuất là rừng tự nhiên đã giao cho cộng đồng, hộ gia đình 35.538,68/100.668,5 ha (đạt 35% kế hoạch giai đoạn); hỗ trợ khoán bảo vệ rừng đối với diện tích rừng Nhà nước giao cho Ban Quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ được Nhà nước giao cho các tổ chức kinh tế, diện tích rừng tự nhiên do UBND cấp xã trực tiếp quản lý 73.612,28/43.981,3 ha (vượt 67% kế hoạch giai đoạn); hỗ trợ khoanh nuôi tái sinh có trồng rừng bổ sung 71,1/830 ha (đạt 9% kế hoạch giai đoạn); hỗ trợ trồng rừng phòng hộ đối với diện tích đất được quy hoạch trồng rừng phòng hộ đã giao cho hộ gia đình 1.275,85/6.200 ha (đạt 21% kế hoạch giai đoạn); hỗ trợ trồng rừng sản xuất bằng loài cây lấy gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ đối với diện tích đất được quy hoạch phát triển rừng sản xuất đã giao ổn định, lâu dài cho hộ gia đình 45,44/200 ha (đạt 23% kế hoạch giai đoạn)…

Những con số này cho thấy nguồn lực của Chương trình MTQG 1719 đã giúp Lạng Sơn cải thiện năng lực tổ chức bảo vệ rừng. Quan trọng nữa là kết quả của Tiểu dự án 1 trong Dự án 3 đã góp phần đắc lực thực hiện Nghị quyết số 58-NQ/TU ngày 29/11/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn về công tác dân tộc và thực hiện Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021-2030 đối với nội dung phát triển, nâng cao chất lượng các vùng nguyên liệu gỗ sản xuất tập trung và các sản phẩm chủ lực của tỉnh. Trong đó, Tiểu dự án 1 đã góp phần duy trì và phát triển vùng cây hồi, thông, keo, bạch đàn, quế, sở - những cây trồng chủ lực của tỉnh, để vùng hồi toàn tỉnh đạt 46.167,84 ha (131,9%); vùng thông 138.542,48 ha (106,6%); vùng keo 55.945,67 ha (147,2%); vùng bạch đàn 29.894,02 ha (298,9%); vùng quế 10.754,26 ha (179,2%); vùng sở 3.102,6 ha (62,5%).

Tuy vậy, nhìn sâu hơn thì kết quả thực hiện các chỉ tiêu trong Tiểu dự án 1, Dự án 3 còn chưa đồng đều. Khoanh nuôi tái sinh có trồng rừng bổ sung mới đạt 71,1/830 ha, tương đương 9% kế hoạch; trồng rừng phòng hộ đạt 1.275,85/6.200 ha, tương đương 21%; trồng rừng sản xuất bằng cây lấy gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ đạt 45,44/200 ha, tương đương 23%. Nội dung trợ cấp gạo cho hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số tham gia bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng sản xuất, phát triển lâm sản ngoài gỗ và trồng rừng phòng hộ chưa thực hiện được.

Nguyên nhân là do nguồn vốn Trung ương phân bổ lớn, diện tích rừng phân tán; định mức hỗ trợ khoán bảo vệ rừng thấp (600.000 đồng/ha theo Nghị định số 58/2024/NĐ-CP ngày 24/5/2024), dẫn đến nhu cầu nhận khoán bảo vệ rừng của người dân rất ít; nội dung, đối tượng thực hiện chỉ được áp dụng tại các xã khu vực II, III trên địa bàn tỉnh. Trong điều kiện địa hình miền núi chia cắt, hiểm trở, giao thông khó khăn, người dân đi tuần tra, bảo vệ rừng phải bỏ ra rất nhiều công sức. Vì thế, mức hỗ trợ theo Nghị định số 58/2024/NĐ-CP khó có thể trở thành một nguồn thu nhập đáng kể để khuyến khích người dân tích cực nhận khoán bảo vệ rừng.

Thời gian tới, tỉnh Lạng Sơn tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao giá trị sản xuất lâm nghiệp, đó là: Triển khai các mô hình trồng rừng gỗ lớn, chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn; mở rộng triển khai cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững; cấp mã số vùng trồng rừng; phát triển cây dược liệu dưới tán rừng; tiếp tục duy trì, mở rộng vùng trồng cây lâm nghiệp tập trung, có giá trị kinh tế cao như: hồi, thông, keo, bạch đàn, quế…; Phát triển một số loài cây trồng mới có giá trị kinh tế cao như cây dẻ, cây mắc ca nhằm biến lợi thế tài nguyên thành lợi thế phát triển, biến màu xanh của rừng thành sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số có cơ hội vươn lên thoát nghèo, làm giàu từ rừng.