Chuyển đổi số giúp đồng bào DTTS tiếp cận dịch vụ công, kiến thức sản xuất, thị trường và việc làm Chính sách dân tộc đã góp phần cải thiện hạ tầng, giảm nghèo, nâng cao đời sống và mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, văn hóa. Nhưng yêu cầu hiện nay không chỉ là giải quyết thiếu hụt, đồng thời còn phải tạo năng lực tự phát triển. Câu hỏi đặt ra là nguồn lực đầu tư có chuyển thành năng lực của cộng đồng hay không.
Nghị quyết số 46/2026/QH16, được Quốc hội thông qua ngày 24/8/2026, phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035, trên cơ sở hợp nhất bốn Chương trình Mục tiêu quốc gia. Chương trình hướng tới phát triển toàn diện, giảm nghèo bao trùm, bền vững, phát triển kinh tế xanh và thu hẹp chênh lệch. Tổng nguồn lực giai đoạn 2026-2030 hơn 808.558 tỷ đồng.
Trong bối cảnh đó, trao quyền cần được xem là một phương thức. Người dân cần được biết nguồn lực, tham gia xác định nhu cầu, lựa chọn mô hình, theo dõi tiến độ và phản hồi kết quả. Công trình, dự án sinh kế và hoạt động bảo tồn sẽ bền vững hơn khi cộng đồng tham gia quyết định.
Tiến sĩ Lò Giàng Páo, Chủ tịch Hội Hỗ trợ Phát triển kinh tế miền núi Việt Nam cho rằng: Đặc biệt, cần coi tri thức địa phương là nguồn lực. Người dân hiểu đất, nước, rừng, giống cây, vật nuôi, nghề truyền thống và văn hóa địa phương. Khi tri thức ấy kết hợp với khoa học, công nghệ, vốn và thị trường, lợi thế bản địa có thể trở thành sản phẩm có giá trị. Cây dược liệu, nông sản đặc sản, nghề thủ công, du lịch cộng đồng có thể bắt đầu từ nguồn lực ấy.
Trong giảm nghèo, cần chuyển từ hỗ trợ cái gì sang tạo năng lực gì. Hỗ trợ chỉ hiệu quả lâu dài khi người dân biết sử dụng, tính toán thị trường và quản trị rủi ro. Vì vậy, chính sách cần tăng đầu tư cho kỹ năng sản xuất, tài chính, thương mại điện tử, quản trị hợp tác xã và thích ứng biến đổi khí hậu.
Trao quyền phải đi cùng minh bạch và trách nhiệm. Cộng đồng cần giám sát nguồn lực, công trình và cùng chịu trách nhiệm. Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 12/5/2026 về thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tiếp tục đặt yêu cầu nâng cao hiệu quả chính sách và giải quyết những vấn đề thiết yếu của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Nhà nước vẫn phải bảo đảm hạ tầng, giáo dục, y tế, đất ở, đất sản xuất.
Lĩnh vực giáo dục đào tạo vùng DTTS đã và đang được ưu tiên dành nguồn lực đầu tư, quyền lựa chọn và năng lực thực hiệnNgười có uy tín, già làng, trưởng bản, nghệ nhân và các tổ chức cộng đồng cần được phát huy mạnh hơn. Họ hiểu phong tục, ngôn ngữ và nhu cầu của người dân, có khả năng kết nối chính sách với thực tiễn. Được bồi dưỡng kiến thức kinh tế, pháp luật, công nghệ, họ có thể vừa truyền đạt chính sách, vừa phản ánh vướng mắc từ cơ sở.
Chuyển đổi số mở thêm không gian trao quyền. Công nghệ giúp người dân tiếp cận dịch vụ công, kiến thức sản xuất, thị trường và việc làm. Khoảng cách số phải được thu hẹp bằng hạ tầng và kỹ năng. Dữ liệu về di sản, tri thức địa phương cũng cần được quản trị có trách nhiệm, tôn trọng quyền chủ thể của cộng đồng.
Đánh giá chính sách giai đoạn mới không nên chỉ nhìn vào vốn giải ngân hay số công trình hoàn thành. Cần đo bằng năng lực được hình thành, đó là hộ có sinh kế ổn định, hợp tác xã đứng vững, thanh niên có việc làm, cộng đồng tự quản tài nguyên và mô hình có thể duy trì sau hỗ trợ, Tiến sĩ Lò Giàng Páo chia sẻ thêm.
Chính sách dân tộc giai đoạn 2026-2030 cần chuyển từ làm cho đồng bào sang làm cùng đồng bào. Nhà nước vẫn kiến tạo, bảo đảm công bằng và ưu tiên nguồn lực cho nơi khó khăn; cộng đồng được trao thêm quyền tham gia, quyền lựa chọn và năng lực thực hiện. Khi người dân trở thành chủ thể, nguồn lực công có thể tạo sức mạnh nội sinh, nâng mức sống, củng cố bản sắc và sức chống chịu.