Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Đánh thức nguồn lực nội sinh từ văn hóa, tạo động lực phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số

Nguyễn Duy Dũng - 19:07, 29/10/2026

(DTTG) - Văn hóa là ký ức của cộng đồng và những giá trị được lưu giữ qua nhiều thế hệ, đồng thời còn là nguồn lực nội sinh góp phần tạo sinh kế, củng cố đoàn kết và mở ra cơ hội phát triển. Trong triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030 (Gọi tắt là Chương trình MTQG 417), bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc cần được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế, nâng cao đời sống và xây dựng nông thôn mới, để di sản thực sự trở thành tài sản sống của cộng đồng.


Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc, với 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số (khoảng 14,1 triệu người, chiếm khoảng 14,7% dân số của cả nước) sinh sống xen cài giữa các vùng miền, tạo nên không gian văn hóa thống nhất trong đa dạng với hệ thống tiếng nói, chữ viết, lễ hội, tri thức dân gian, nghề thủ công, nghệ thuật trình diễn và tập quán sản xuất phong phú. Ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, văn hóa không tách rời đời sống mà hiện diện trong cách cộng đồng tổ chức sản xuất, ứng xử với thiên nhiên, gìn giữ quan hệ dòng họ, bản làng và truyền dạy kinh nghiệm cho thế hệ trẻ. Chính nền tảng ấy tạo nên sức mạnh cố kết xã hội, giúp cộng đồng thích ứng với biến đổi và duy trì bản sắc trong quá trình phát triển.

Bởi vậy, nhìn nhận văn hóa như nguồn lực nội sinh đòi hỏi thay đổi cách tiếp cận, đó là không chỉ bảo vệ những gì đang có, mà phải tạo điều kiện để cộng đồng làm chủ di sản, phát huy giá trị văn hóa trong đời sống đương đại và chuyển hóa những lợi thế phù hợp thành cơ hội sinh kế. Một làn điệu dân ca được truyền dạy cho thế hệ trẻ, một nghề thủ công được khôi phục, một lễ hội được tổ chức đúng với ý nghĩa truyền thống hay một bản làng phát triển du lịch cộng đồng có trách nhiệm đều có thể góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập và nuôi dưỡng niềm tự hào dân tộc. Tuy nhiên, phát triển kinh tế từ văn hóa chỉ bền vững khi quyền lợi của cộng đồng được bảo đảm, giá trị nguyên gốc được tôn trọng và người dân thực sự là chủ thể sáng tạo, thực hành, truyền dạy di sản.

Thực hiện Dự án 6 thuộc Chương trình MTQG 1719 giai đoạn 2021-2025, tỉnh Quảng Ngãi đã khôi phục, gìn giữ và phát huy những bản sắc văn hoá truyền thống, bảo tồn các lễ hội tại các địa phương (Ảnh: D. D)
Thực hiện Dự án 6 thuộc Chương trình MTQG 1719 giai đoạn 2021-2025, tỉnh Quảng Ngãi đã khôi phục, gìn giữ và phát huy những bản sắc văn hoá truyền thống, bảo tồn các lễ hội tại các địa phương (Ảnh: D. D)

Trong giai đoạn 2021-2025, Dự án 6 “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch”, thuộc Chương trình MTQG 1719 (theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025) đã tạo chuyển biến đáng ghi nhận. 

Theo báo cáo tổng kết Chương trình MTQG giai đoạn 2021-2025 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Dự án 6 “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch” do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì đã triển khai trên phạm vi toàn quốc với 19 nhiệm vụ thành phần, hướng đến mục tiêu khôi phục, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, gắn văn hóa với phát triển du lịch bền vững, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa và đời sống tinh thần của đồng bào. Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được nghiên cứu, phục hồi, bảo tồn; các lễ hội tiêu biểu của các dân tộc như Lễ hội Gầu Tào (Mông), Lễ hội Cồng chiêng (Tây Nguyên), Lễ hội Then - Đàn tính (Tày, Nùng, Thái)… được phục dựng và ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, trở thành điểm nhấn văn hóa-du lịch đặc sắc của địa phương.

Công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đạt nhiều kết quả nổi bật, như: Nhiều nhà văn hóa, trung tâm sinh hoạt cộng đồng được xây mới, nâng cấp; hàng nghìn câu lạc bộ văn hóa dân gian, đội văn nghệ truyền thống được thành lập và hoạt động thường xuyên, thu hút đông đảo nghệ nhân, già làng, thanh thiếu niên dân tộc tham gia.

Các lớp tập huấn, truyền dạy văn hóa phi vật thể, nghiệp vụ du lịch cộng đồng được tổ chức với hơn 16.000 lượt học viên, giúp nâng cao năng lực bảo tồn và khai thác giá trị văn hóa tại chỗ. Các ngày hội, liên hoan văn hóa, nghệ thuật, thể thao dân tộc quy mô khu vực và toàn quốc được tổ chức định kỳ, tạo diễn đàn giao lưu, giới thiệu bản sắc văn hóa dân tộc đến đông đảo công chúng.

Lễ mừng cơm mới của người Si La (Ảnh: St)
Lễ mừng cơm mới của người Si La (Ảnh: St)

Việc gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch cộng đồng mang lại hiệu quả rõ nét. Nhiều điểm du lịch vùng dân tộc thiểu số được cải tạo, nâng cấp, hình thành mô hình du lịch cộng đồng bền vững kết hợp bảo tồn văn hóa với phát triển sinh kế, tiêu biểu như bản Nà Hang (tỉnh Tuyên Quang), làng văn hóa Lác (tỉnh Phú Thọ), Plei Ơi (tỉnh Gia Lai), Sin Suối Hồ (tỉnh Lai Châu)…

Đồng thời, nhiều địa phương đã tổ chức bảo tồn 15 lễ hội truyền thống tiêu biểu, xây dựng 36 mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống, hỗ trợ 31 nhà văn hóa - khu thể thao thôn và triển khai 29 chương trình nghiên cứu, phục hồi, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể có nguy cơ mai một.

Nhờ đó, tỷ lệ thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng đạt 93,8%, thôn có đội văn hóa, văn nghệ truyền thống hoạt động thường xuyên đạt 66,1%, vượt chỉ tiêu Quốc hội đề ra (80% và 50%).

Dự án 6 đã góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc, từ đó nâng cao giá trị tinh thần, vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi (Ảnh: D.D)
Dự án 6 thuộc Chương trình MTQG 1719 đã góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc, từ đó nâng cao giá trị tinh thần, vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi (Ảnh: D.D)

Những kết quả này cho thấy, bảo tồn văn hóa đã từng bước đi từ nhận thức sang hành động, từ lưu giữ di sản sang tổ chức thực hành, truyền dạy và tạo môi trường để cộng đồng hưởng thụ văn hóa. Tuy vậy, số lượng công trình, lễ hội hay câu lạc bộ mới chỉ phản ánh một phần kết quả. Giá trị sâu xa hơn phải được đánh giá bằng khả năng duy trì hoạt động sau hỗ trợ, mức độ tham gia của người trẻ, sự sống còn của tiếng nói, nghề truyền thống và tri thức dân gian, cũng như lợi ích thực tế mà người dân nhận được. Nếu thiếu người kế tục, thiếu không gian thực hành và thiếu nguồn thu duy trì hoạt động, di sản văn hoá vẫn có nguy cơ mai một ngay cả khi đã được kiểm kê hoặc phục dựng.

Thực tiễn tại Điện Biên cho thấy hướng tiếp cận gắn bảo tồn với cộng đồng có nhiều tiềm năng. Giai đoạn 2021-2025, tỉnh đã kiểm kê 468 di sản văn hóa, tổ chức bảo tồn 14 lễ hội truyền thống, triển khai 46 lớp tập huấn, truyền dạy và hỗ trợ trang thiết bị cho 493 thiết chế văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Những hoạt động này góp phần củng cố không gian thực hành văn hóa, nâng cao năng lực của người làm công tác văn hóa tại cơ sở và tạo điều kiện để di sản được tiếp nối trong đời sống cộng đồng.

Bước sang giai đoạn mới, Quyết định số 417/QĐ-BNNMT ngày 31/1/2026 đã phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia tích hợp về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: thực hiện từ năm 2026 đến năm 2030. Tiếp đó, Nghị quyết số 46/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035 đã mở rộng khuôn khổ tích hợp thành Chương trình MTQG phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035; Nghị định số 387/2026/NĐ-CP ngày 12/10/2026 của Chính phủ: Quy định nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035… Sự tích hợp này tạo cơ hội tăng cường liên kết giữa bảo tồn văn hóa với giáo dục, sinh kế, du lịch, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng đời sống.

Theo đó, để biến cơ hội thành kết quả, các địa phương cần rà soát, phân loại di sản theo giá trị, mức độ mai một và nhu cầu của cộng đồng; ưu tiên truyền dạy tiếng nói, chữ viết, nghệ thuật dân gian, nghề thủ công và tri thức bản địa đang đứng trước nguy cơ thất truyền. Đồng thời, cần hỗ trợ nghệ nhân, người thực hành di sản, câu lạc bộ văn hóa và thế hệ kế cận; số hóa tư liệu có chọn lọc; xây dựng sản phẩm du lịch cộng đồng, sản phẩm thủ công và OCOP dựa trên bản sắc địa phương. Việc phân bổ vốn phải gắn với kế hoạch duy trì sau đầu tư, sự tham gia của người dân và cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch, tránh thương mại hóa làm sai lệch giá trị văn hóa.

Văn hóa chỉ thực sự trở thành nguồn lực nội sinh khi được bảo tồn bằng chính đời sống cộng đồng và phát huy bằng những cơ hội phát triển thiết thực. Khi người dân vừa gìn giữ di sản, vừa có sinh kế ổn định; khi thế hệ trẻ tự hào về bản sắc và có khả năng tiếp nối truyền thống, các chương trình mục tiêu quốc gia sẽ không chỉ tạo ra những công trình hay mô hình riêng lẻ, mà còn bồi đắp nền tảng tinh thần và sức mạnh tự thân của mỗi bản làng. Đây là con đường, phương thức quan trọng, cần thiết để phát triển kinh tế đi cùng tiến bộ xã hội, bảo tồn bản sắc gắn với hội nhập và xây dựng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phát triển bền vững./.