Một góc Bản du lịch cộng đồng Sìn Suối Hồ (Lai Châu)Sức sống từ những mô hình tự quản trong thực tiễn
Sự chuyển dịch tư duy nói trên hoàn toàn không phải là một lý thuyết trừu tượng, mà đã được chứng minh hiệu quả qua những mô hình thực tiễn đầy sức thuyết phục tại các địa phương vùng cao thời gian qua.
Điển hình tại Hà Giang (cũ), nay là tỉnh Tuyên Quang, địa phương đã tiên phong vận dụng cơ chế giao quyền, thành lập các Nhóm cùng sở thích (CIG) để cộng đồng tự tổ chức thực hiện các dự án sinh kế thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia. Thay vì chính quyền cấp xã đứng ra mua sắm và áp đặt cây, con giống từ trên xuống, mô hình triển khai thực tế từ năm 2022 đến nay tại các xã vùng cao như Pờ Ly Ngài (huyện Hoàng Su Phì cũ) đã mang lại cách tiếp cận hoàn toàn mới.
Tại thôn Na Vang, xã Pờ Ly Ngài, người dân địa phương (chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông, Nùng) đã tự họp bàn, thành lập nhóm liên kết hộ và tự quyết định lựa chọn nuôi bò thịt vỗ béo an toàn sinh học dựa trên lợi thế đồng cỏ dốc đặc thù. Thành viên trong nhóm tự tìm nguồn cung ứng giống, tự phân công chăm sóc và cùng giám sát chi tiêu dòng vốn hỗ trợ của dự án. Kết quả từ thực tiễn ghi nhận tỷ lệ con giống sống và phát triển đạt trên 95%, cao hơn hẳn so với phương thức cấp phát tập trung trước đây; thu nhập bình quân của các hộ tham gia tăng từ 15–20% mỗi năm, khẳng định con đường thoát nghèo thực chất khi người dân được làm chủ
Một minh chứng sống động khác là sự phát triển của các mô hình du lịch sinh thái cộng đồng tự quản tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Điển hình như: Mô hình Bản du lịch cộng đồng Sin Suối Hồ (Lai Châu) do đồng bào dân tộc Mông làm làm chủ thể trên tinh thần người dân tự bầu ra Ban quản lý bản, đặt ra quy ước nghiêm ngặt: không rượu chè, không cờ bạc, không xả rác, mỗi nhà tự trồng hoa địa lan để tạo cảnh quan. Hợp tác xã tại đây điều phối lợi ích cực kỳ công bằng, phân chia rõ nhà nào làm homestay, nhà nào làm dịch vụ ăn uống, nhà nào cho thuê ngựa thồ để ai cũng có thu nhập. Hay “Mô hình Làng du lịch cộng đồng Akô Dhông ở Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk, chủ thể là đồng bào dân tộc Ê-đê. Theo đó, Ban quản lý buôn và các già làng giữ vai trò cốt lõi trong việc quản trị, ra quy ước bảo tồn nguyên vẹn hơn 30 ngôi nhà dài truyền thống. Khi phát triển du lịch, người dân trong buôn chủ động tự liên kết, làm chủ các homestay, quán cà phê sân vườn, các tổ nghề dệt và chế biến cà phê thủ công, giảm tối đa sự can thiệp thương mại hóa bên ngoài nhằm giữ gìn bản sắc và chia sẻ sinh kế bền vững cho thanh niên Ê-đê trong buôn.
Có thể thấy, các mô hình tự quản trong thực tiễn ở các bản làng đã không còn thụ động chờ kinh phí hỗ trợ từ Nhà nước mà người dân chủ động thành lập Ban quản lý do chính mình bầu ra. Họ tự xây dựng quy ước, hương ước thôn bản để bảo vệ cảnh quan, tự phân chia lợi ích công bằng giữa các hộ từ dịch vụ lưu trú (homestay), dẫn tour đến biểu diễn văn nghệ truyền thống. Sự tham gia của chính quyền chỉ dừng lại ở vai trò kiến tạo: hỗ trợ mở các lớp tập huấn kỹ năng, kết nối doanh nghiệp lữ hành và hoàn thiện hạ tầng cốt lõi. Khi được trao quyền làm chủ và thụ hưởng trực tiếp thành quả lao động, đồng bào không chỉ có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa mà còn chủ động cải tạo môi trường sống, nâng cao thu nhập một cách bền vững.
Làng du lịch cộng đồng Akô Dhông (Đắk Lắk)Hóa giải những “điểm nghẽn” để khơi thông nguồn lực
Thành công từ các mô hình trên khẳng định: Khi cộng đồng được đặt vào vị trí chủ thể, nội lực tự thân của đồng bào sẽ được khơi dậy mạnh mẽ nhất. Dù vậy, để nhân rộng các mô hình này, chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận những “điểm nghẽn” lớn trong hạ tầng chính sách hiện nay.
Rào cản lớn nhất nằm ở thủ tục hành chính và cơ chế quản lý tài chính. Hiện nay, quy trình thanh quyết toán nguồn vốn đối với các dự án cộng đồng còn quá rườm rà, áp dụng chung một khuôn mẫu pháp lý phức tạp từ cấp Trung ương đến cấp xã. Điều này tạo áp lực quá tải cho đội ngũ cán bộ cơ sở và khiến ban quản lý thôn bản lúng túng. Mặt khác, việc phân cấp, phân quyền chưa được thực hiện một cách triệt để; nhiều nơi chính quyền vẫn giữ tư duy “quản lý, ban phát”, chưa thực sự tin tưởng vào năng lực tự quản của người dân.
Bên cạnh đó, yêu cầu tiên quyết đặt ra cho chính sách dân tộc giai đoạn 2026–2030 là phải thể chế hóa mạnh mẽ cơ chế phân cấp và giao quyền trọn gói. Điều này đòi hỏi các cơ quan lập pháp và hành pháp sớm ban hành các quy định pháp lý mang tính đặc thù, tập trung đơn giản hóa tối đa các thủ tục hồ sơ nghiệm thu, quyết toán đối với các công trình, dự án quy mô nhỏ thuộc thẩm quyền cấp cơ sở. Thay vì can thiệp sâu vào từng quy trình thực hiện mang tính sự vụ, chính quyền cấp trên cần mạnh dạn giao quyền tự chủ ngân sách trực tiếp cho cộng đồng, đồng thời chuyển đổi sang cơ chế giám sát từ xa dựa trên kết quả đầu ra. Việc gỡ các điểm nghẽn về mặt thủ tục tài chính chính là bệ đỡ pháp lý vững chắc nhất để đồng bào tự tin nắm quyền chủ động mà không bị bó buộc bởi các khuôn mẫu hành chính rườm rà.
Song song với việc hoàn thiện thể chế, một yêu cầu cốt lõi khác không thể tách rời là tập trung nâng cao năng lực chủ thể thực chất cho người dân, bởi trao quyền luôn phải đi đôi với năng lực thực thi. Nội dung đào tạo phải bám sát thực tiễn, trọng tâm vào kỹ năng quản trị dòng vốn, tư duy kinh tế thị trường, liên kết chuỗi giá trị và năng lực ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, tiêu thụ sản phẩm… Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác dân tộc cũng cần phải đổi mới tư duy, kiên quyết từ bỏ tác phong “quản lý hành chính”, tư duy ban phát để dịch chuyển sang vai trò của người đồng hành, hướng dẫn và kiến tạo không gian phát triển. Chỉ khi tư duy của cán bộ và năng lực của người dân cùng gặp nhau ở một điểm nhìn chung, tiến trình trao quyền mới đạt được sự đồng thuận bền vững từ gốc rễ…