Sau khi hợp nhất tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh từ ngày 1/7/2025, tỉnh Bắc Ninh hiện có không gian phát triển rộng hơn, kết hợp những trung tâm công nghiệp năng động với địa bàn miền núi, trung du còn nhiều khó khăn. Theo báo cáo của Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Bắc Ninh, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hiện có 29 xã, phường, với hơn 390.000 người dân tộc thiểu số thuộc 45 thành phần dân tộc; đây cũng là khu vực có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất tỉnh. Sự chênh lệch về điều kiện sản xuất, hạ tầng và khả năng tiếp cận thị trường đòi hỏi chính sách đầu tư phải có trọng tâm, phù hợp đặc điểm từng địa bàn, tránh cách làm dàn trải, bình quân.
Giai đoạn 2021-2025, Chương trình MTQG 1719 đã góp phần cải thiện hạ tầng, hỗ trợ sản xuất và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội. Theo báo cáo của UBND tỉnh Bắc Ninh tại Hội nghị Toàn quốc Tổng kết chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, tổng vốn ngân sách trung ương và vốn đối ứng từ ngân sách tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2021-2025 là 2.064.079 triệu đồng (Ngân trung ương 1.508.951 triệu đồng; Ngân sách tỉnh 349.682 triệu đồng; Vốn tín dụng chính sách: 45.560 triệu đồng; Vốn ngân sách huyện, xã và vốn huy động khác: 159.886 triệu đồng).
Mô hình nuôi gà của gia đình anh Nghiêm Văn Minh, xã Yên Thế (tỉnh Bắc Ninh) đã mạng lại hiệu quả kinh tế bền vững. (Ảnh: D.D)Sau 5 năm, Bác Ninh đã triển khai thực hiện hỗ trợ nhà ở cho 744 hộ, hỗ trợ chuyển đổi nghề cho 3.424 hộ; hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 6.440 hộ, đầu tư xây dựng 20 công trình nước sinh hoạt tập trung; hỗ trợ cho trên 1.300 hộ với khối lượng hỗ trợ khoán bảo rừng và hỗ trợ bảo vệ rừng là 15.079 ha; thực hiện 23 dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị, 177 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất cộng đồng cho 5.356 hộ thụ hưởng; Thúc đẩy khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp và thu hút đầu tư vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đầu tư xây dựng mới 270 công trình. Cải tạo, nâng cấp 8 công trình trạm y tế xã, xây mới, cải tạo nâng cấp 9 chợ; thực hiện 11 dự án cứng hóa đường giao thông đến trung tâm xã, đường liên xã; đầu tư xây dựng đường dẫn và cầu Suối Xả, xã Cẩm Đàn, huyện Sơn Động cũ (tỉnh Bắc Ninh); mua sắm trang thiết bị 06 trạm y tế xã, thực hiện duy tu bảo dưỡng xong 263 công trình trên địa bàn các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn; đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp một số hạng mục thuộc 09 trường PTDTNT, trường PTDTBT; hỗ trợ mua sắm trang thiết bị dạy học, các thiết bị phục vụ việc chuyển đổi số giáo dục phục vụ giảng dạy và học tập trực tuyến cho 35 trường; tổ chức 44 lớp xóa mù chữ cho 986 người dân; tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho hơn 20.000 lượt người dân; ...
Thông qua thực hiện Chương trình MTQG 1719, kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ lệ hộ nghèo người dân tộc thiểu số giảm bình quân 2,42%/năm; tỷ lệ hộ nghèo các xã đặc biệt khó khăn giảm bình quân 4,21%/năm; 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa; 100% các trường phổ thông dân tộc nội trú đạt chuẩn quốc gia; 100% người dân tộc thiểu số thuộc các xã vùng khó khăn được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí; 100% trạm y tế các xã vùng dân tộc, miền núi của tỉnh có bác sĩ; 100% các xã có y sĩ sản nhi hoặc nữ hộ sinh; 100% thôn, bản của các xã vùng dân tộc thiểu số có nhân viên y tế thôn bản hoạt động. Tính đến 31/12/2024, toàn tỉnh có 8 xã khu vực III hoàn thành nông thôn mới và thoát khỏi tỉnh trạng đặc biệt khó khăn.
Bắc Ninh đã tổ chức đào tạo nghề cho 60.042 lao động vùng đồng bào DTTS và miền núi, đạt 147,2% kế hoạch. Thực tế cho thấy, với những kết quả nói trên, điều quan trọng là hiệu quả chính sách đã được thể hiện rõ hơn tại những địa bàn thực hiện tốt việc gắn đầu tư với nhu cầu thiết thực và phát huy vai trò chủ thể của người dân. Điển hình tại xã Sơn Động, giai đoạn 2021-2025, tổng nguồn lực thực hiện Chương trình MTQG 1719 đạt gần 75 tỷ đồng; đến hết tháng 1/2026, tỷ lệ giải ngân đạt khoảng 98% kế hoạch vốn được giao. Nguồn lực đã hỗ trợ 16 hộ nghèo, cận nghèo xây dựng nhà ở; hỗ trợ chuyển đổi nghề cho 369 hộ thiếu đất sản xuất; hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 741 hộ. Đặc biệt, địa phương triển khai 22 dự án phát triển sản xuất cộng đồng, tổ chức liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị với gần 300 hộ tham gia và khoán bảo vệ hơn 1.362 ha rừng. Cùng với 17 công trình hạ tầng được đầu tư, các dự án góp phần tạo điều kiện để người dân phát triển sản xuất, cải thiện sinh hoạt và từng bước nâng cao năng lực tự vươn lên. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều tại xã vẫn ở mức 12,64% theo báo cáo tháng 6/2026, cho thấy đầu tư và giải ngân là điều kiện cần, còn hiệu quả giảm nghèo lâu dài phải được đánh giá qua thu nhập, việc làm và khả năng duy trì sinh kế.
Còn tại xã An Lạc, bài học nổi bật là lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện đất đai và gắn với thị trường. Vụ đông xuân 2025-2026, địa phương tổ chức 110 ha khoai tây theo hình thức liên kết doanh nghiệp, thu hút hơn 450 hộ tham gia. Riêng một hộ tại thôn Nà Ó sản xuất 7 ha khoai tây, đạt doanh thu khoảng 700 triệu đồng. Ở thôn Thanh Trà, mô hình chuyển đổi 2 mẫu ruộng sang trồng 500 gốc táo, bắt đầu từ năm 2021 với sự hỗ trợ của vốn vay ưu đãi, cho thu hoạch khoảng 10 tấn quả trong vụ được báo cáo, lợi nhuận gần 400 triệu đồng. Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2020-2025, tỷ lệ hộ nghèo của xã cuối năm 2025 còn 8,38%. Khi áp dụng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026-2030 để đánh giá năm 2025, tỷ lệ là 10,45%; sự khác biệt phản ánh thay đổi tiêu chí đánh giá, không thể hiểu đơn giản là nghèo tăng do đời sống suy giảm. Đây là minh chứng cho yêu cầu sử dụng thống nhất chuẩn nghèo khi so sánh kết quả qua các giai đoạn.
Nhằm khai thác hiệu quả hơn thế mạnh của địa phương, xã Yên Thế (tỉnh Bắc Ninh) đã chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm gà đồi Yên Thế. Ảnh: D.DBên cạnh đó, một hướng đi mang lại hiệu quả thiết thực tại Bắc Ninh đó là phát triển sinh kế dựa trên lợi thế sản phẩm địa phương. Tại xã Đồng Tâm, thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang trước khi hợp nhất (nay là xã Yên Thế, tỉnh Bắc Ninh), gà đồi đã trở thành một sản phẩm nông nghiệp có thương hiệu, gắn với kinh nghiệm chăn nuôi của người dân và điều kiện vườn đồi. Theo thông tin ngành nông nghiệp, khu vực Yên Thế từng hình thành vùng chăn nuôi gà vườn đồi tập trung tại xã Yên Thế và nhiều xã lân cận, với gần 4.000 hộ chăn nuôi thường xuyên; sản lượng cung ứng hằng năm khoảng 12-14 triệu con gà thịt, giá trị sản xuất ước đạt 1.500 tỷ đồng. Những con số này cho thấy chăn nuôi gà đồi không chỉ là hoạt động sản xuất của từng hộ mà đã trở thành ngành hàng có quy mô, sức lan tỏa và khả năng tạo việc làm đáng kể.
Theo đó, giá trị của mô hình không đơn giản nằm ở số lượng đàn gà và doanh thu, mà ở khả năng chuyển lợi thế tự nhiên và kinh nghiệm địa phương thành hàng hóa có sức cạnh tranh. Gà đồi Yên Thế đã được quảng bá thông qua hoạt động xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Thực tiễn ấy gợi mở hướng vận dụng chính sách giảm nghèo, đó là hỗ trợ đúng đối tượng, nâng cao chất lượng con giống, cải thiện quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, phòng chống dịch bệnh, thúc đẩy truy xuất nguồn gốc và tăng cường liên kết giữa hộ chăn nuôi với hợp tác xã, cơ sở giết mổ, doanh nghiệp phân phối. Khi những mắt xích này được tổ chức đồng bộ, người dân không chỉ bán được sản phẩm mà còn có cơ hội giữ ổn định đầu ra, giảm rủi ro và nâng cao giá trị gia tăng.
Mô hình liên kết sản xuất và chế biến chè xanh Bản Ven của HTX Thân Trường, tỉnh Bắc NinhĐồng thời, cũng cần nhấn mạnh rằng những số liệu về quy mô ngành gà đồi Yên Thế đã phản ánh thành quả phát triển sản xuất của địa phương, không đồng nghĩa toàn bộ ngành hàng được hình thành từ nguồn vốn Chương trình MTQG 1719 giai đoạn 2021-2025. Ý nghĩa của việc nêu mô hình trong bài viết này là làm rõ tiềm năng để các chính sách hỗ trợ sinh kế tiếp tục phát huy hiệu quả, nhất là với những hộ nghèo, hộ dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đủ điều kiện tham gia chuỗi sản xuất. Hỗ trợ công phải được thiết kế trên cơ sở khảo sát nhu cầu, xác định rõ đối tượng hưởng lợi, phương án sản xuất và đầu ra; tránh tình trạng đầu tư theo phong trào và cấp con giống mà thiếu hướng dẫn kỹ thuật, vốn đối ứng và cơ chế tiêu thụ.
Du khách trải nghiệm diễn xướng quan họ trên thuyền tại Hội LimTừ ngày 31/01/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định 417/QĐ-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030, tạo khuôn khổ để tiếp tục kết hợp xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Với tỉnh Bắc Ninh, trọng tâm cần chuyển mạnh từ hỗ trợ đầu vào sang phát triển sinh kế theo chuỗi giá trị: lựa chọn mô hình có thị trường tiêu thụ, tăng cường đào tạo nghề và chuyển giao kỹ thuật, phát triển hợp tác xã, kết nối doanh nghiệp, thúc đẩy thương mại điện tử và nâng cao năng lực quản trị của cộng đồng. Việc phân bổ vốn phải công khai, minh bạch, ưu tiên địa bàn khó khăn và tránh đầu tư trùng lặp; hiệu quả phải được đo bằng số hộ thoát nghèo bền vững, mức tăng thu nhập và khả năng tự duy trì sản xuất sau khi kết thúc hỗ trợ.
Chính vì vậy, nguồn lực nhà nước chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi được chuyển hóa thành năng lực phát triển của người dân. Những kết quả ở 2 xã Sơn Động và An Lạc của tỉnh Bắc Ninh cho thấy, đầu tư hạ tầng, hỗ trợ sản xuất và liên kết thị trường cần được triển khai đồng bộ, nhưng không thể thay thế sự tham gia chủ động của từng hộ gia đình. Ưu tiên sinh kế chính là đặt con người ở vị trí trung tâm của chính sách dân tộc, đó là giúp người dân có điều kiện làm chủ cuộc sống, thu hẹp khoảng cách phát triển và đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn mới./.