Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Để sức dân trở thành nguồn lực bền vững trong thực hiện Chương trình MTQG 417

Phương Thảo - 08:27, 09/10/2026

(DTTG) - Sức dân là một trong những nguồn lực quan trọng góp phần làm nên những kết quả nổi bật của các Chương trình MTQG giai đoạn 2021-2025. Song ngoài những con số về tiền, đất đai hay ngày công huy động được chính là bài học về việc phát huy quyền làm chủ của người dân. Khi người dân được trực tiếp tham gia bàn bạc, giám sát và thụ hưởng kết quả, nguồn lực trong dân sẽ được khơi thông một cách tự nguyện và bền vững. Bài học này rất có giá trị khi bước vào thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 (Chương trình MTQG 417)

Thường trực Đảng ủy xã Măng Đen, tỉnh Quảng Ngãi làm việc với Chi bộ và nhân dân thôn Rô Xia để nắm tình hình cơ sở, tháo gỡ khó khăn và định hướng phát triển kinh tế - xã hội, nông nghiệp, du lịch, xây dựng thôn nông thôn mới.
Thường trực Đảng ủy xã Măng Đen, tỉnh Quảng Ngãi làm việc với Chi bộ và nhân dân thôn Rô Xia để nắm tình hình cơ sở, tháo gỡ khó khăn và định hướng phát triển kinh tế - xã hội, nông nghiệp, du lịch, xây dựng thôn nông thôn mới.

Sức dân - nguồn lực to lớn

Một trong những kinh nghiệm nổi bật từ quá trình triển khai các Chương trình MTQG Xây dựng nông thôn mới, Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 là phát huy nguồn lực to lớn trong dân.

Theo đánh giá của Ban chỉ đạo Trung ương các chương trình MTQG giai đoạn 2021-2025, riêng Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, vốn doanh nghiệp và đóng góp tự nguyện của người dân, cộng đồng đạt khoảng 853,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,1% tổng nguồn lực huy động. Trong đó, đóng góp tự nguyện của người dân và cộng đồng khoảng 814 nghìn tỷ đồng, thông qua nhiều hình thức như hiến đất, ngày công, vật tư, tiền mặt để xây dựng đường giao thông, kênh mương, nhà văn hóa và các công trình hạ tầng thiết yếu khác.

Đối với Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững, nguồn lực huy động từ người dân và cộng đồng đạt hơn 1.774 tỷ đồng, bao gồm tiền mặt, ngày công và hiện vật.

Cũng theo ghi nhận của Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình MTQG giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ vốn huy động từ dân đối với xây dựng nông thôn mới đạt bình quân 15-20%; một số địa phương như Hải Phòng, Thanh Hóa, Tiền Giang (cũ), tỷ lệ này đạt 20-40%. Tỷ lệ càng cao càng chứng tỏ tâm lý trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước của người dân đã giảm, họ đã tự mình phát huy nội lực để vươn lên. 

Đồng bào dân tộc Mông ở thôn vùng cao Tráng Chá Phìn, xã Lũng Phìn, tỉnh Tuyên Quang góp công lắp đặt hệ thống đèn năng lượng mặt trời
Đồng bào dân tộc Mông ở thôn vùng cao Tráng Chá Phìn, xã Lũng Phìn, tỉnh Tuyên Quang góp công lắp đặt hệ thống đèn năng lượng mặt trời

Bài học được rút ra trong giai đoạn vừa qua là phát huy vai trò chủ thể và tính tự quản của người dân là nhân tố cốt lõi tạo nên tính bền vững của Chương trình. Khi được trực tiếp tham gia bàn bạc, giám sát và thụ hưởng kết quả, người dân sẽ tự giác đóng góp sức người, sức của và bảo vệ những thành quả do chính mình góp phần tạo dựng.

Nguyên tắc “Không huy động quá sức dân”

Giai đoạn 2026-2030, Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình MTQG 417) cần một nguồn lực rất lớn. Dự kiến, tổng nguồn vốn thực hiện Chương trình MTQG 417 khoảng 1.044 triệu tỷ đồng; trong đó vốn doanh nghiệp và đóng góp tự nguyện của cộng đồng, người dân được cơ cấu khoảng 261 nghìn tỷ đồng, chiếm 25%.

Tuy nhiên cùng với mục tiêu huy động nguồn lực, một nguyên tắc rất quan trọng được Chương trình MTQG 417 xác lập đó là người dân không bị bắt buộc đóng góp; việc huy động bằng tiền, hiện vật hoặc ngày công phải trên tinh thần tự nguyện, công khai, minh bạch, rõ trách nhiệm giải trình và không được huy động quá sức dân.

Quy định này cần được nhìn nhận không phải như một giới hạn đối với việc phát huy sức dân, mà chính là điều kiện để sức dân được phát huy đúng nghĩa. Bởi thực tiễn giai đoạn trước cho thấy một số hạn chế cần được thẳng thắn nhìn nhận. Đó là khả năng huy động nguồn lực giữa các vùng rất khác nhau. Những địa phương có điều kiện kinh tế thuận lợi có khả năng xã hội hóa cao hơn; trong khi vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và một số địa bàn khó khăn thì việc huy động hạn chế hơn. Một số nơi còn biểu hiện vận động chưa thực sự tự nguyện, chưa đảm bảo minh bạch...

4 hộ dân tại thôn 2, xã Trà Đốc, thành phố Đà Nẵng tự nguyện hiến hơn 2400 m2 đất (bao gồm cả đất ở và đất sản xuất), 75 cây cau đang độ xanh tốt, 200 cây quế con, hơn 1.000 cây keo và nhiều cây ăn trái (mít, xoài, mận...) để mở đường
4 hộ dân tại thôn 2, xã Trà Đốc, thành phố Đà Nẵng tự nguyện hiến hơn 2400 m2 đất (bao gồm cả đất ở và đất sản xuất), 75 cây cau đang độ xanh tốt, 200 cây quế con, hơn 1.000 cây keo và nhiều cây ăn trái (mít, xoài, mận...) để mở đường

Vì vậy, sẽ là không hợp lý nếu coi tỷ lệ đóng góp của người dân là một thước đo cứng về mức độ thành công trong công tác huy động nguồn lực trong dân của mỗi địa phương. Một chính sách phát triển hướng tới người dân trước hết phải bảo vệ năng lực tích lũy, sinh kế và khả năng vươn lên của chính người dân. Nếu một hộ phải vay tiền để hoàn thành một khoản “đóng góp tự nguyện”, hoặc người dân cảm thấy đóng góp là điều kiện để được hưởng lợi từ công trình công cộng, thì dù về hình thức có thể vẫn gọi là xã hội hóa, nhưng về bản chất đã không còn là sự tự nguyện. Do đó, nguyên tắc “không huy động quá sức dân” cần được xem là một nguyên tắc quản trị phát triển, chứ không chỉ là quy định về tài chính.

Muốn huy động sức dân, trước hết phải tạo được sự đồng thuận

Từ bài học của giai đoạn 2021-2025, việc thực hiện nguyên tắc này trong giai đoạn 2026-2030 cần gắn thực chất với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Trước mỗi công trình, dự án có huy động nguồn lực cộng đồng, người dân được quyền biết rõ Nhà nước đầu tư bao nhiêu, phần nào cần xã hội hóa, tại sao cần huy động, huy động để làm gì, mức đóng góp dự kiến ra sao và ai chịu trách nhiệm quản lý, quyết toán. Việc công khai phải đi trước huy động, chứ không phải huy động xong mới công khai.

Mặt khác, cần phân biệt rõ nhu cầu đóng góp của cộng đồng với nghĩa vụ tài chính của người dân. Không biến khoản tự nguyện thành “định mức”; không chia đều bình quân theo hộ, theo khẩu; không gắn việc đóng góp với bình xét thi đua, hưởng chính sách hay tiếp cận các dịch vụ công. Càng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng chịu thiên tai hoặc nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao, nguyên tắc này càng phải được thực hiện nghiêm.

Trung tâm văn hóa - thể thao xã Ia Khươn, tỉnh Gia Lai
Trung tâm văn hóa - thể thao xã Ia Khươn, tỉnh Gia Lai

Bên cạnh đó, cần đa dạng cách người dân tham gia đóng góp. Sức dân không chỉ là tiền. Người có đất có thể tự nguyện hiến đất; người có nghề có thể góp công; người cao tuổi có thể vận động cộng đồng; người trẻ có thể hỗ trợ công nghệ, chuyển đổi số. Thậm chí, việc tham gia giám sát một công trình cũng là một hình thức đóng góp. Nhìn rộng hơn, trí tuệ, kinh nghiệm, trách nhiệm cộng đồng và khả năng tự quản cũng đều là sức dân. Đồng thời cần thiết lập cơ chế nhận diện nguy cơ “quá sức dân”. Việc huy động phải tính đến thu nhập, điều kiện kinh tế - xã hội, tỷ lệ hộ nghèo và khả năng đóng góp thực tế của từng địa bàn. Những hộ nghèo, gia đình chính sách, người cao tuổi neo đơn hoặc hộ gặp khó khăn đột xuất được miễn đóng góp.

Đặc biệt, không nên đánh giá thành tích của chính quyền cơ sở bằng số tiền huy động được từ dân. Bởi khi một chỉ tiêu huy động trở thành tiêu chí thi đua, áp lực thành tích rất dễ được truyền từ cấp trên xuống cấp dưới và cuối cùng chuyển thành áp lực đối với từng hộ dân. Đồng thời cần nâng cao trách nhiệm giải trình. Mỗi khoản đóng góp của người dân phải có địa chỉ sử dụng rõ ràng, được công khai từ lúc vận động đến khi nghiệm thu công trình. Ban giám sát đầu tư của cộng đồng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể và chính người dân phải được kiểm tra, giám sát. Công nghệ số cũng có thể được sử dụng để công khai nguồn thu, chi phí, tiến độ và kết quả thực hiện, giúp người dân giám sát thuận tiện hơn.

Cuối cùng, ngân sách Nhà nước phải giữ vai trò “vốn mồi” và dẫn dắt đầu tư. Không vì chủ trương xã hội hóa mà chuyển trách nhiệm đầu tư những hạ tầng thiết yếu sang cho cộng đồng, đặc biệt tại những địa bàn khó khăn. Chính ở những nơi sức dân còn yếu, đầu tư công càng phải đóng vai trò tạo nền tảng để khơi thông các nguồn lực khác.

Thực tiễn giai đoạn 2021-2025 đã chứng minh tiềm lực trong dân rất lớn, nhưng nguồn lực ấy chỉ được khơi thông khi người dân tin rằng những gì mình đóng góp được sử dụng đúng mục đích và cuối cùng quay trở lại phục vụ chính cộng đồng. Khi đó, sự đóng góp sẽ trở thành hành động tự nguyện từ chính nhu cầu phát triển củahọ. Bởi vậy, “không huy động quá sức dân” không đối lập với “phát huy sức dân”.Trái lại, đó chính là cách bảo vệ sức dân để nguồn lực đó được nuôi dưỡng vàphát huy lâu dài, trở thành nguồn lực nội sinh cho phát triển bền vững.