Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Chương trình MTQG 417 - Ưu tiên nguồn lực cho những cộng đồng dân tộc khó khăn nhất

Hà Thu - 1 giờ trước

(DTTG) - Có những dân tộc mà cả cộng đồng chỉ vài nghìn người, sống ở những bản xa nhất, nơi mùa mưa bị cô lập và tỷ lệ hộ nghèo vẫn trên 90%. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2030 (Chương trình MTQG 417) dành riêng một nội dung cho các dân tộc này. Đó là lựa chọn có tính nguyên tắc: một quốc gia chỉ phát triển bền vững khi phát triển đến được với cả những cộng đồng nhỏ nhất.

Nhờ nguồn lực các chương trình mục tiêu quốc gia, nhiều hộ đồng bào ở bản Lòm, xã Dân Hóa (Quảng Trị) đã có nhà ở kiên cố. (Ảnh: CTV Tiến)
Nhờ nguồn lực các chương trình mục tiêu quốc gia, nhiều hộ đồng bào ở bản Lòm, xã Dân Hóa (Quảng Trị) đã có nhà ở kiên cố. (Ảnh: CVT)

Bình đẳng không có nghĩa là chia đều

Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”. Trong thực tế, các dân tộc không xuất phát từ cùng một vạch. Có cộng đồng đã quen với kinh tế hàng hóa. Có cộng đồng vẫn sống dựa vào nương rẫy, vào rừng, với vài trăm hộ tách biệt giữa đại ngàn. Nếu chia nguồn lực như nhau, khoảng cách giữa họ không thu hẹp mà còn có thể nới rộng.

Vì vậy, bình đẳng thực chất đòi hỏi ưu tiên có địa chỉ. Chương trình MTQG 417 thể hiện tư duy này bằng Nội dung thành phần 04, là chính sách đặc thù ưu tiên hỗ trợ các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù.

Đoàn công tác Bộ Dân tộc và Tôn giáo do Thứ trưởng Y Vinh Tơr làm Trưởng đoàn làm việc với UBND tỉnh Điện Biên về triển khai Chương trình MTQG giai đoạn 2026–2030. (Ảnh: CTV Ngọc)
Đoàn công tác Bộ Dân tộc và Tôn giáo do Thứ trưởng Y Vinh Tơr làm Trưởng đoàn làm việc với UBND tỉnh Điện Biên về triển khai Chương trình MTQG giai đoạn 2026–2030. (Ảnh: CTN)

Các mục tiêu được đặt ra rất cụ thể. Đến năm 2030, tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo của các dân tộc này phải giảm một nửa so với năm 2024. Tỷ lệ lao động biết nghề, sống bằng nghề tăng 30%. Đáng chú ý, Chương trình lần đầu đặt chỉ tiêu tăng 20% dân số các dân tộc có khó khăn đặc thù, và hỗ trợ 20% học sinh, sinh viên xuất sắc của các dân tộc này đi đào tạo ở nước ngoài.

Những con số đó cho thấy chính sách không dừng ở chuyện thoát nghèo. Mục tiêu cao hơn là bảo đảm các dân tộc rất ít người tồn tại, phát triển và có đội ngũ trí thức của chính mình.

Chọn đúng đối tượng để chính sách đến đúng nơi

Một chính sách ưu tiên chỉ có ý nghĩa khi xác định đúng người cần ưu tiên. Nghị định số 255/2025/NĐ-CP của Chính phủ đưa ra tiêu chí rõ ràng. Dân tộc có khó khăn đặc thù là dân tộc có dân số toàn quốc dưới 10.000 người, đồng thời có tỷ lệ nghèo đa chiều cao hơn mức bình quân của các dân tộc thiểu số, hoặc có dân số giảm so với năm 2019.

Nhà ở của đồng bào DTTS vùng cao Tuyên Quang ngày càng kiên cố. (Ảnh: CTV Ngọc)
Nhà ở của đồng bào DTTS vùng cao Tuyên Quang ngày càng kiên cố. (Ảnh: CTV Ngọc)

Việc đưa yếu tố “dân số giảm” vào tiêu chí là một điểm mới đáng ghi nhận. Với một cộng đồng chỉ vài nghìn người, dân số giảm không chỉ là chuyện thống kê. Đó là nguy cơ mai một tiếng nói, phong tục, và rộng hơn là một phần bản sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Trên cơ sở đó, ngày 25/3/2026, Bộ Dân tộc và Tôn giáo phê duyệt danh sách 24 dân tộc còn gặp nhiều khó khăn và 9 dân tộc có khó khăn đặc thù. Thông tư số 02/2026/TT-BDTTG sau đó hướng dẫn hỗ trợ trọn gói giống, phân bón, vật tư sản xuất, mở lớp học tiếng dân tộc, khôi phục nghề và nhạc cụ truyền thống. Có thể thấy, sinh kế và văn hóa được đặt cạnh nhau. Không thể nói đến phát triển bền vững nếu một cộng đồng thoát nghèo nhưng đánh mất chính mình.

Từ chủ trương chung đến nghị quyết cho từng cộng đồng

Giá trị của một chính sách được đo ở cơ sở. Năm 2026 ghi nhận những địa phương đã đi trước một bước, biến chủ trương chung thành cam kết cụ thể với từng dân tộc.

Lai Châu là ví dụ tiêu biểu. Ngày 13/4/2026, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TU về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào Mảng, La Hủ, được báo chí gọi là chính sách “đặc thù trong đặc thù”. Nghị quyết không né tránh thực tế: tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo của đồng bào tại 9 xã là 68,7%, gấp khoảng 2,5 lần bình quân của tỉnh. Tảo hôn, ma túy và tâm lý trông chờ vẫn là những lực cản.

Nhìn thẳng vào khó khăn, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 đường bản được cứng hóa, bản nào cũng có điện lưới, hộ nào cũng có nước sạch, mỗi gia đình có ít nhất một lao động làm việc phi nông nghiệp. Điều đáng chú ý là nghị quyết đặt công tác vận động lên đầu. Trưởng bản, người có uy tín được giao vai trò nòng cốt. Những hộ thoát nghèo được biểu dương để làm gương cho cộng đồng.

Mô hình trồng măng đắng giúp đồng bào ở xã biên giới Tri Lễ (Nghệ An) có thêm sinh kế ổn định. (Ảnh: CTV Tiến)
Mô hình trồng măng đắng giúp đồng bào ở xã biên giới Tri Lễ (Nghệ An) có thêm sinh kế ổn định. (Ảnh: CTV Tiến)

Ở Tuyên Quang, bốn dân tộc Bố Y, Pà Thẻn, Lô Lô, Cờ Lao được xác định thuộc nhóm có khó khăn đặc thù. Họ sống rải rác trên vùng cao núi đá, nơi một con đường hay một trạm y tế cũng là cả chặng đường dài. Danh sách mới trở thành căn cứ để tỉnh ưu tiên đầu tư cho giáo dục, y tế, nhà ở và bảo tồn văn hóa.

Đặc biệt, Chương trình MTQG 417 dành riêng một nội dung đầu tư cho cộng đồng người Đan Lai ở vùng lõi Vườn Quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An. Đây là cộng đồng duy nhất được Chương trình gọi tên. Sau chương trình xóa nhà tạm, 78 căn nhà đã được dựng mới, sửa chữa. Toàn bộ 254 hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gỡ một vướng mắc kéo dài nhiều năm. Người dân hai bản Cò Phạt, Khe Búng đã an cư.

Nhưng an cư chưa phải là lạc nghiệp. Tỷ lệ hộ nghèo ở hai bản vẫn trên 92%. Con đường 20 km vào bản mới bê tông hóa được 6 km. Đó chính là lý do Chương trình xác định đầu tư cho người Đan Lai phải đồng bộ: hạ tầng, nhà ở, đất sản xuất, giáo dục, y tế và đào tạo cán bộ là người Đan Lai.

Nguồn lực là cần, nhưng chưa đủ

Kinh nghiệm giai đoạn trước cho thấy không thể chủ quan. Theo số liệu tổng hợp năm 2024, 9 trong 14 dân tộc có khó khăn đặc thù giai đoạn 2021–2025 có tỷ lệ hộ nghèo tăng so với năm 2019. Nguyên nhân chủ yếu là chuẩn nghèo được nâng lên. Dù vậy, điều đó cũng nói lên một thực tế: với những cộng đồng xuất phát điểm quá thấp, mỗi bước tiến đều rất chậm và dễ chững lại.

Bài học rút ra là tiền và công trình thôi chưa đủ. Một con bò được hỗ trợ chỉ trở thành sinh kế khi người nhận biết chăm sóc và muốn làm giàu từ nó. Một lớp học tiếng dân tộc chỉ có ý nghĩa khi chính cộng đồng thấy cần giữ tiếng nói của mình. Chính sách có thể mở đường, nhưng người đi trên con đường ấy phải là đồng bào.

Vì thế, khơi dậy ý chí tự lực, tự cường là nhiệm vụ không kém phần quan trọng so với đầu tư hạ tầng. Ở đây, vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín càng trở nên đặc biệt. Họ là người hiểu đồng bào nhất, nói tiếng của đồng bào, và được đồng bào tin. Mô hình chính quyền hai cấp, với yêu cầu phân cấp mạnh cho cơ sở, cũng đặt lên vai chính quyền xã trách nhiệm lớn hơn: trực tiếp nắm từng hộ, từng bản, từng nhu cầu cụ thể.

Thước đo của sự phát triển

Một xã hội được đánh giá không chỉ qua những thành tựu ở trung tâm, mà còn qua cách nó đối xử với những cộng đồng nhỏ bé nhất. Việc Nhà nước dành nguồn lực riêng cho vài nghìn người Mảng, vài trăm hộ Đan Lai là minh chứng sinh động cho chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng: các dân tộc cùng phát triển, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Đó cũng là câu trả lời thuyết phục nhất trước những luận điệu xuyên tạc về chính sách dân tộc ở Việt Nam. Sự thật nằm ở những con đường đang được bê tông hóa vào bản, những ngôi nhà mới giữa đại ngàn Pù Mát, những lớp học tiếng mẹ đẻ được mở lại. Chăm lo cho những dân tộc nhỏ nhất, xa nhất, cũng chính là hiện thực hóa cam kết nhất quán của Đảng và Nhà nước: các dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển.