Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Di cư lao động và những vấn đề đặt ra trong trao truyền văn hóa dân tộc Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long

ThS. Phạm Văn Chiều - 15:49, 03/04/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Đồng bằng sông Cửu Long giữ vai trò đặc biệt trong phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là không gian văn hóa quan trọng của đồng bào Khmer. Những biến đổi về sinh kế, tác động của biến đổi khí hậu và sự hút lao động ở các trung tâm phát triển đã làm gia tăng dòng di cư của người Khmer và kéo theo nguy cơ đứt gãy trao truyền văn hóa của dân tộc này. Bài viết góp phần phân tích thực trạng di cư lao động và những tác động với việc trao truyền văn hóa trong đồng bào dân tộc Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long.

Từ khóa: Di cư lao động; Khmer; Trao truyền văn hóa; Đồng bằng sông Cửu Long.

Nhiều ngôi chùa của đồng bào Khmer ở vùng Tây Nam Bộ duy trì lớp học tiếng Khmer miễn phí vào dịp hè góp phần giữ gìn tiếng nói, chữ viết của dân tộc
Nhiều ngôi chùa của đồng bào Khmer ở vùng Tây Nam Bộ duy trì lớp học tiếng Khmer miễn phí vào dịp hè góp phần giữ gìn tiếng nói, chữ viết của dân tộc

1. Di cư lao động ở đồng bào dân tộc Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long

Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, khu vực đồng bằng sông Cửu Long hiện gồm các tỉnh, thành phố: Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cà Mau, An Giang và thành phố Cần Thơ (Chính phủ, 2025: 7), với diện tích khoảng 40.000km². Đây là nơi sinh sống của 28 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc Khmer có 1.158.292 người (6,6%), phân bố chủ yếu tại Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau và An Giang (Bộ Dân tộc và Tôn giáo - Cục Thống kê, 2025). Với không gian cư trú chủ yếu theo phum/sóc, đồng bào dân tộc Khmer tập trung quanh các chùa Phật giáo Nam tông, có đời sống nông nghiệp là chủ yếu và điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn. Những đặc điểm này đã kéo chậm quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại các địa bàn có đông đồng bào Khmer sinh sống, từ đó tạo sức ép dẫn đến di cư lao động sang khác địa phương khác.

Trong thực tế, việc đất đai phân tán đã làm giảm diện tích canh tác bình quân, khiến sinh kế nông nghiệp truyền thống của người Khmer ngày càng bấp bênh. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới di cư lao động. Từ 2005 đến 2020, đồng bằng sông Cửu Long liên tục có tỷ lệ di cư thuần âm; Năm 2005 là -1,8% và tăng lên -10,6% năm 2020 (Earth Journalism Network, 2022). Đặc biệt tại Vĩnh Long và Cần Thơ, nơi cộng đồng người Khmer chiếm hơn 30% dân số, đất đai chủ yếu là đất lúa kém màu mỡ, phụ thuộc thủy lợi, năng suất thấp và thu nhập bấp bênh, dẫn đến tình trạng xuất cư ngày càng mạnh (VCCI và Fulbright, 2024). Không chỉ vậy, sinh kế truyền thống kết hợp trồng lúa - nuôi cá - nghề thủ công vốn từng bảo đảm đời sống cho đồng bào thì nay không còn phù hợp trong nền kinh tế thị trường. Các chi phí đầu vào tăng, thị trường tiêu thụ bất ổn khiến thu nhập của người Khmer thấp hơn mặt bằng chung và di cư trở thành lựa chọn để tìm kiếm việc làm, chủ yếu tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và các khu công nghiệp khác (VCCI và Fulbright, 2024).

Bên cạnh yếu tố kinh tế, tác động của biến đổi khí hậu là nguyên nhân có sức ảnh hưởng sâu rộng. Đồng bằng sông Cửu Long là một trong các vùng chịu tác động nặng nề nhất của xâm nhập mặn, hạn hán, sạt lở. Các phum/sóc ven biển, nơi tập trung đông đồng bào Khmer là khu vực chịu rủi ro cao với mức độ xâm nhập mặn thường kéo dài, diễn ra sớm hơn 2,5-3,5 tháng và rút muộn hơn một tháng so với trung bình nhiều năm (Earth Journalism Network, 2022). Khi sản xuất nông nghiệp mất ổn định, thanh niên Khmer buộc phải rời quê tìm kế sinh nhai, tạo ra vòng xóay suy giảm lao động tại chỗ và làm suy yếu nền tảng văn hóa phum/sóc (VCCI và Fulbright, 2024).

Yếu tố thu hút từ các đô thị, khu công nghiệp ở Đông Nam Bộ cũng đóng vai trò quyết định. Giai đoạn 2009-2019, số người Khmer tại Đông Nam Bộ tăng 43%, chủ yếu là người di cư từ Tây Nam Bộ đến. Riêng Thành phố Hồ Chí Minh có hơn 50.000 người Khmer, Bình Dương 65.000 người, Đồng Nai 23.000 người (Nguyễn Phú Lợi, 2022: 60). Ngoài nhu cầu việc làm, xu hướng di cư nhằm học tập, nâng cao tri thức, đặc biệt tại các cơ sở giáo dục Phật giáo Nam tông và các trường cao đẳng, đại học ngày càng rõ nét.

Như vậy, di cư của đồng bào Khmer là kết quả của tổng hòa nhiều yếu tố: điều kiện cư trú dễ tổn thương, sinh kế truyền thống suy giảm, biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan, sức hút mạnh mẽ của các khu vực phát triển năng động... Do vậy, di cư vừa phản ánh áp lực kinh tế - xã hội, vừa thể hiện sự thích ứng của cộng đồng trước bối cảnh mới. Tuy nhiên, kèm theo đó là nguy cơ đứt gãy trong trao truyền văn hóa, suy giảm ngôn ngữ, nghề truyền thống và sự cố kết phum/sóc thông qua những trụ cột bản sắc của người Khmer.

2. Những vấn đề đặt ra trong trao truyền văn hóa ở đồng bào dân tộc Khmer bởi tác động của di cư lao động

Đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long có không gian cư trú tập trung và sắc thái Phật giáo Nam tông đặc thù. Văn hóa vừa là bản sắc, vừa là nền tảng gắn kết cộng đồng. Tuy nhiên, trước tác động của di cư lao động, nhất là di cư không chính thức, quá trình trao truyền văn hóa đang đối diện nhiều thách thức, đòi hỏi xem xét cả đặc điểm văn hóa truyền thống và cơ chế trao truyền văn hóa vốn tồn tại lâu đời.

Một là, về đặc điểm văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long

Với đồng bào dân tộc Khmer, ngôi chùa Phật giáo Nam tông là trung tâm gắn kết cộng đồng. Mỗi phum/sóc đều có một ngôi chùa đóng vai trò trung tâm tôn giáo, giáo dục, văn hóa và cố kết cộng đồng. Đến năm 2020, toàn vùng có hơn 445 ngôi chùa Phật giáo Nam tông, đồng thời có những chuyển biến lớn diễn ra ở truyền thống tu tập, sư sãi và sự chuyển đổi đức tin tôn giáo của một bộ phận đồng bào dân tộc Khmer (Nguyễn Phú Lợi, 2022: 61). Qua đó, ngôi chùa đóng vai trò là một thiết chế tôn giáo đa chức năng từ việc dạy chữ, nơi tổ chức các lễ hội, nơi lưu giữ và truyền bá kinh điển Phật giáo, nơi cố kết cộng đồng thông qua nghi lễ. Hình ảnh ngôi chùa gắn với tháp chóp, những bức phù điêu, nhạc cụ dân tộc trong lễ hội chính là biểu tượng sống động của bản sắc văn hóa Khmer.

Bên cạnh đó, hệ thống lễ hội tạo nên nhịp sống văn hóa đặc thù với các lễ hội gắn với mùa vụ, tín ngưỡng, chu kỳ nông nghiệp; là không gian diễn xướng nghệ thuật cộng đồng để thế hệ trẻ tiếp nhận, thực hành và giữ gìn bản sắc. Qua đó, góp phần tạo nên bản đồ văn hóa được định vị ngày càng rõ nét trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập ngày càng sâu rộng hiện nay. Tuy nhiên, khi lao động trẻ di cư, số người tham gia các lễ hội giảm, làm cho sức sống lễ hội cũng như các giá trị trong văn hóa truyền miệng và sinh hoạt cộng đồng trong đời sống hằng ngày của đồng bào dân tộc Khmer cũng giảm dần theo.

Hai là, về cơ chế trao truyền văn hóa truyền thống trong đồng bào dân tộc Khmer

Trong cơ chế văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer, gia đình giữ vai trò trụ cột. Ông bà, cha mẹ là những người truyền lại ngôn ngữ, tập tục, kinh nghiệm sản xuất và đặc biệt là giá trị đạo đức trong xã hội của cộng đồng. Các câu chuyện dân gian, lời ru, tục ngữ, lễ nghi “quan, hôn, tang, tế” được duy trì qua hình thức truyền miệng. Đây là sự nội truyền mang tính tự nhiên, tạo ra căn tính cộng đồng từ nhỏ trong đồng bào dân tộc Khmer. Tuy nhiên, trong bối cảnh di cư lao động, mô hình gia đình Khmer truyền thống đang thay đổi. Thanh niên rời quê đi làm công nhân, để lại khoảng trống thế hệ, làm suy yếu chức năng truyền dạy văn hóa trong gia đình. Ngoài gia đình, chùa là trung tâm văn hóa - giáo dục đặc biệt. Chùa dạy chữ Khmer, chữ Pali, kinh Phật, nghi lễ tôn giáo. Trẻ em Khmer nhất là nam giới thường vào chùa học chữ và học đạo. Nhiều chùa duy trì lớp học miễn phí vào hè, tạo thành truyền thống bền vững nối dài qua nhiều thế hệ. Không chỉ vậy, phum/sóc là không gian trao truyền văn hóa sống động nhất khi đây là nơi tổ chức các lễ hội, nghệ thuật dân gian và góp phần tạo môi truyền trao truyền văn hóa dựa trên ký ức tập thể.

Cơ chế trao truyền văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer dựa trên tam giác quan hệ: gia đình - nhà chùa - cộng đồng đã tạo nên sự vận hành nhịp nhàng trong nhiều thế kỷ, đảm bảo cho sự trao truyền đó diễn ra liên tục trong nhịp sống của đồng bào dân tộc Khmer. Tuy nhiên, cơ chế này đang chịu thách thức lớn từ thực trạng di cư lao động khi sự thiếu vắng của thanh niên nói riêng, người lớn trong một gia đình nói chung đã làm suy yếu vai trò truyền dạy của gia đình, giảm tỷ lệ học chữ Khmer tại chùa và làm suy giảm sự tham gia của thế hệ trẻ trong các sinh hoạt cộng đồng. Điều này báo hiệu nguy cơ đứt gãy trong chuỗi trao truyền văn hóa, đặt ra yêu cầu cấp bách phải có chính sách bảo tồn và thích ứng.

Ba là, tác động của di cư lao động đến sự đứt gãy trong trao truyền văn hóa ở đồng bào dân tộc Khmer

Dưới góc độ nghiên cứu dựa trên mối quan hệ dân tộc - tôn giáo, tác động của di cư lao động đối với cơ chế trao truyền văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long như một hiện tượng kép giữa hai yếu tố, vừa là chiến lược sinh kế tất yếu, vừa là làm mỏng các thiết chế truyền thừa (gia đình - nhà chùa - cộng đồng) vốn giữ vai trò lõi của bản sắc dân tộc Khmer.

Trong văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer, ngôi chùa Phật giáo Nam tông là trung tâm cố kết cộng đồng thông qua việc dạy chữ Pali, kinh Phật, nghi lễ; Còn gia đình là tế bào truyền thừa văn hóa trong gia đình, là nơi ông bà, cha mẹ dạy tiếng mẹ đẻ, nghi thức vòng đời và đạo đức cho người trẻ; Cộng đồng phum/sóc là không gian diễn xướng tập thể thông qua các hình thức nghệ thuật dân gian truyền thống trong đời sống đồng bào dân tộc Khmer. Khi lực lượng thanh niên, đặc biệt là nam thanh niên trong độ tuổi tu học rời đồng bằng sông Cửu Long đến các địa phương khác, độ dày về mặt thế hệ trong đồng bào dân tộc Khmer bị sụt giảm, từng mắt xích chuỗi kế tục bị đứt gãy khi ít người ở chùa để tu học và tiếp nhận truyền thừa, trao truyền văn hóa, bao gồm các ngành nghề truyền thống và nghệ thuật cộng đồng; ít người học chữ hay học lễ nghi trong văn hóa truyền thống cũng như tôn giáo, ít thanh niên tham gia công việc cộng đồng thông qua các hoạt động tín ngưỡng, nghệ thuật, tôn giáo…

Ở chiều ngược, bản thân ngôi chùa Phật giáo Nam tông và cộng đồng vẫn nỗ lực bù đắp bằng các lớp dạy chữ Khmer miễn phí mỗi dịp hè do chư tăng tổ chức ngày càng nhận được sự quan tâm của chính quyền địa phương. Tại những khu vực có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống, nhiều trường học đã bắt đầu đưa tiếng Khmer vào chương trình giảng dạy chính khóa. Tuy nhiên, ở một số địa phương vùng sâu, vùng xa, việc triển khai vẫn còn hạn chế do thiếu đội ngũ giáo viên dạy song ngữ cũng như cơ sở vật chất. Bên cạnh đó, các lớp này vẫn mang tính thời vụ, khó bù được độ vắng thế hệ quanh năm do di cư lao động dài hạn hoặc kể cả tình trạng di cư lao động không chính thức tại đồng bằng sông Cửu Long nói chung, đối với đồng bào dân tộc Khmer nói riêng.

Không chỉ vậy, di cư lao động của đồng bào dân tộc Khmer sang những vùng kinh tế khác đã làm thay đổi hệ sinh thái ngôn ngữ, qua đó tác động đến sự đứt gãy trong trao truyền văn hóa trong đồng bào dân tộc Khmer. Theo đó, tại nơi đồng bào dân tộc Khmer di cư đến, như: tại các khu công nghiệp, trung tâm giáo dục… những công nhân hoặc học sinh, sinh viên là đồng bào dân tộc Khmer phải vận hành công việc, trao đổi học tập trong không gian Việt ngữ mà không có nhiều cơ hội sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình. Cùng với đó là tính liên kết đồng tộc thông qua nhà chùa bị rời xa, cơ hội dùng ngôn ngữ Khmer hay chữ Pali hằng ngày giảm. Trẻ em theo bố mẹ di cư hoặc sinh ra ở nơi di cư đến ít được tiếp xúc với tiếng mẹ đẻ, đặc biệt là kỹ năng đọc - viết, vốn chủ yếu được bồi đắp ở ngôi chùa Phật giáo Nam tông và các lớp học hè tại quê nhà. Một nghiên cứu di trú và ngôn ngữ quốc tế cho thấy quy luật dị hóa ngôn ngữ truyền thống, theo đó thế hệ 1.5 và thế hệ thứ hai giảm nhanh năng lực tiếng mẹ đẻ khi chuyển môi trường, hiện tượng đã được ghi nhận rõ trong cộng đồng người Khmer tại Mỹ (Wayne E. Wright, 2010) và có giá trị so sánh phương pháp luận cho trường hợp đồng bào dân tộc Khmer ở Việt Nam nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng.

Bên cạnh đó, với đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer, các lễ hội văn hóa truyền thống gắn với Phật giáo Nam tông không chỉ là nghi lễ tâm linh mà còn là yếu tố liên kết xã hội, kết nối cộng đồng phum/sóc, học tập nghi lễ hay nghệ thuật truyền thống… Nhưng khi sự thay đổi trong đời sống sinh hoạt, công việc, học tập, nhất là đối với những người trẻ thì hầu hết đồng bào dân tộc Khmer chỉ tham gia các hoạt động lễ hội truyền thống vào các dịp nghỉ lễ, tết theo thời gian nghỉ chung của xã hội. Nếu như trước đây, các hoạt động này gắn với nhịp sống nông nghiệp thì những thay đổi từ phương thức lao động, môi trường di cư xã hội… đã làm cho các lễ hội này bị phá vỡ theo nhịp sống công nghiệp. Không chỉ vậy, từ việc di cư để thay đổi sinh kế, đồng bào dân tộc Khmer cũng có thay đổi theo văn hóa thôn xóm, tập tục thờ cúng, văn hóa tín ngưỡng ở địa phương và ảnh hưởng đến các sinh hoạt văn hóa trong khối cộng đồng di cư theo nhiều chiều hướng khác nhau.

3. Kết luận

Di cư lao động của đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long phản ánh biến động kinh tế - xã hội và làm bộc lộ thách thức trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Khi lao động trẻ rời quê đi làm ăn xa, gia đình, nhà chùa và cộng đồng thiếu vắng thế hệ kế tục, khiến ngôn ngữ, lễ hội và nghề truyền thống đối diện với nguy cơ mai một. Tuy nhiên, di cư không hoàn toàn tiêu cực nếu được quản lý bằng chính sách phù hợp, bởi nó có thể mở rộng không gian văn hóa và thúc đẩy sự thích ứng sáng tạo của cộng đồng. Điều quan trọng là gắn bảo tồn văn hóa với phát triển sinh kế bền vững, củng cố vai trò của chùa và trường học, tạo không gian văn hóa tại nơi di cư và sự hỗ trợ từ mạng lưới gia đình - cộng đồng. Nếu có các giải pháp đồng bộ, đồng bào Khmer mới có thể vừa hội nhập, vừa giữ gìn bản sắc trong bối cảnh phát triển hiện nay.

* Học viện Chính trị khu vực IV

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Dân tộc và Tôn giáo - Cục Thống kê (2025), Kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024, http://www.cema.gov.vn/thong-bao/ket-qua-dieu-tra-thu-thap-thong-tin-ve-thuc-trang-kinh-te-xa-hoi-cua-53-dan-toc-thieu-so-nam-2024.htm

2. Chính phủ (2025), Nghị quyết số 306/NQ-CP của Chính phủ ngày 05/10/2025 về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

3. Earth Journalism Network (2022), “Floods and Migrants of Vietnam’s Mekong Delta: 25 Lessons from the Data”, https://earthjournalism.net/stories/floods-and-migrants-of-vietnams-mekong-delta-25-lessons-from-the-data

4. Nguyễn Phú Lợi (2022), Sự chuyển biến của Phật giáo Nam tông Khmer ở Tây Nam Bộ hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 5 (221), tr. 58-75.

5. VCCI và Fulbright (2024), Báo cáo kinh tế thường niên đồng bằng sông Cửu Long 2024: Huy động đầu tư cho phát triển bền vững, Nxb. Đại học Cần Thơ.

6. Wayne E. Wright (2010), Khmer as a Heritage Language in the United States: Historical Sketch, Current Realities, and Future Prospects, Heritage Language Journal, Vol. 7(1) Winter, 2010, https://brill.com/view/journals/hlj/7/1/article-p117_6.xml