Dự án đường tỉnh 342 nối tỉnh Quảng Ninh với tỉnh Lạng Sơn được hoàn thành thi công vào giữa năm 2024 tạo điều kiện thúc đẩy phát triển KT-XH vùng DTTSTừ khóa: Đổi mới tư duy; Phương thức; Chính sách dân tộc; Nâng cao hiệu quả; Tính bền vững; Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
1. Đặt vấn đề
Chính sách dân tộc là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước, giữ vai trò chiến lược trong củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm công bằng xã hội và phát triển bền vững đất nước. Trong những năm qua, nhiều chủ trương, chương trình và dự án, đề án dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã được triển khai đồng bộ, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, phát triển kết cấu hạ tầng, giảm nghèo bền vững và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc triển khai chính sách dân tộc vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như tư duy hỗ trợ thụ động, chính sách còn dàn trải, chồng chéo, hiệu quả chưa đồng đều và thiếu tính bền vững. Một số địa phương còn lúng túng trong tổ chức thực hiện; cơ chế phối hợp, phân cấp và giám sát chính sách chưa thật sự hiệu quả. Đặc biệt, việc phát huy nội lực của cộng đồng dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế - xã hội chưa được quan tâm đúng mức.
Trong bối cảnh đó, đổi mới tư duy và phương thức triển khai chính sách dân tộc trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, khắc phục tư duy hỗ trợ thụ động và chuyển mạnh sang tiếp cận phát triển bền vững, lấy người dân làm trung tâm và cộng đồng làm chủ thể phát triển. Đây không chỉ là yêu cầu về quản lý nhà nước mà còn là nhiệm vụ chiến lược nhằm khơi dậy nội lực, củng cố niềm tin xã hội và tạo nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn mới.
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Tình hình triển khai chính sách dân tộc hiện nay
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, hệ thống chính sách dân tộc ngày càng được hoàn thiện theo hướng toàn diện, đồng bộ và chú trọng phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Nhiều chương trình, dự án lớn đã được triển khai, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I từ 2021-2025 đã tạo chuyển biến tích cực trên nhiều lĩnh vực. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nhiều địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được cải thiện rõ rệt. Hệ thống giao thông, điện, trường học, cơ sở y tế, nước sinh hoạt và hạ tầng viễn thông từng bước được đầu tư đồng bộ, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng. Tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm; nhiều mô hình phát triển sinh kế, sản xuất nông ng hiệp, du lịch cộng đồng và khởi nghiệp bước đầu phát huy hiệu quả. Bên cạnh đó, các chính sách về giáo dục, y tế, đào tạo nghề và bảo tồn văn hóa dân tộc được quan tâm triển khai sâu rộng. Công tác bảo tồn tiếng nói, chữ viết, lễ hội truyền thống và tri thức dân gian,... của các dân tộc thiểu số có nhiều chuyển biến tích cực. Một số địa phương đã từng bước ứng dụng công nghệ số trong quảng bá văn hóa, quản lý dữ liệu dân cư và triển khai dịch vụ công trực tuyến, tạo tiền đề cho quá trình chuyển đổi số ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai chính sách dân tộc hiện nay vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế và tồn tại. Trước hết, tư duy thực hiện chính sách ở một số nơi vẫn mang nặng tính hỗ trợ, chưa thực sự chú trọng phát huy nội lực và vai trò chủ thể của cộng đồng dân tộc thiểu số. Người dân trong nhiều trường hợp vẫn ở vị trí “thụ hưởng chính sách” thay vì tham gia chủ động vào quá trình xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách.
Đặc biệt, năng lực tổ chức thực hiện chính sách ở cơ sở còn chưa đồng đều. Một bộ phận cán bộ làm công tác dân tộc còn hạn chế về kỹ năng quản trị, chuyển đổi số và khả năng tiếp cận phương thức quản lý hiện đại. Công tác phối hợp giữa các ngành, các cấp trong triển khai chính sách ở một số nơi chưa chặt chẽ, dẫn đến tình trạng chậm tiến độ hoặc thiếu tính thống nhất trong thực hiện.
Hơn nữa, quá trình chuyển đổi số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn gặp nhiều khó khăn do hạn chế về hạ tầng công nghệ, trình độ dân trí và khả năng tiếp cận thông tin của người dân. Khoảng cách số giữa các vùng miền đang trở thành thách thức mới đối với mục tiêu phát triển bao trùm và bền vững.
Từ vấn đề nêu trên cho thấy, để nâng cao hiệu quả và tính bền vững của chính sách dân tộc trong giai đoạn mới, chúng ta cần đổi mới mạnh mẽ cả về tư duy lẫn phương thức triển khai. Chính sách dân tộc cần chuyển từ hỗ trợ đơn thuần sang phát triển nội sinh; từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển hiện đại; từ tiếp cận ngắn hạn sang tiếp cận dài hạn, bền vững và lấy người dân, đồng bào dân tộc thiểu số làm trung tâm của quá trình phát triển.
2.2. Một số vấn đề đặt ra trong đổi mới tư duy và phương thức triển khai chính sách dân tộc
Bước vào giai đoạn phát triển mới, công tác dân tộc và việc triển khai chính sách dân tộc đang đứng trước nhiều yêu cầu và thách thức mới mang tính toàn diện, đòi hỏi chúng ta phải đổi mới mạnh mẽ cả về tư duy và phương thức thực hiện nhằm bảo đảm hiệu quả và tính bền vững lâu dài.
Thứ nhất, khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với các khu vực phát triển trong cả nước vẫn còn khá lớn. Tình trạng thiếu việc làm ổn định, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản còn hạn chế đang ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuyển từ tư duy hỗ trợ ngắn hạn sang phát triển nội sinh và nâng cao năng lực tự phát triển của cộng đồng.
Thứ hai, quá trình chuyển đổi số và hội nhập quốc tế đang tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong khi công nghệ số mở ra nhiều cơ hội tiếp cận tri thức, thị trường và dịch vụ công, thì khoảng cách số, hạn chế về kỹ năng công nghệ và hạ tầng thông tin ở vùng sâu, vùng xa lại có nguy cơ làm gia tăng bất bình đẳng phát triển nếu không có chính sách phù hợp.
Thứ ba, nguy cơ mai một bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa và giao lưu văn hóa mạnh mẽ hiện nay. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống, tiếng nói, chữ viết và tri thức dân gian đang đứng trước nguy cơ bị lãng quên, ảnh hưởng đến tính bền vững của cộng đồng dân tộc thiểu số...
Thứ tư, phương thức triển khai chính sách dân tộc ở một số nơi còn mang tính hành chính, thiếu linh hoạt và chưa phát huy đầy đủ vai trò chủ thể của người dân. Cơ chế phối hợp liên ngành, phân cấp quản lý và giám sát thực thi chính sách vẫn còn bất cập, dẫn đến hiệu quả thực hiện chưa đồng đều giữa các địa phương.
Những vấn đề đặt ra hiện nay cho thấy, đổi mới tư duy và phương thức triển khai chính sách dân tộc không chỉ là yêu cầu quản trị mà còn là nhiệm vụ chiến lược nhằm khơi dậy nội lực cộng đồng, nâng cao hiệu quả chính sách và bảo đảm phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn mới.
2.3. Đổi mới tư duy trong xây dựng và thực thi chính sách dân tộc
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, đổi mới tư duy trong xây dựng và thực thi chính sách dân tộc trở thành yêu cầu mang tính chiến lược. Đây không chỉ là sự thay đổi về phương pháp quản lý mà còn là quá trình chuyển biến sâu sắc về nhận thức phát triển, nhằm nâng cao hiệu quả chính sách và phát huy nội lực của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
(1) Cần đổi mới tư duy từ “hỗ trợ thụ động” sang “trao quyền và tạo động lực phát triển”. Trong thời gian dài, nhiều chính sách dân tộc chủ yếu tập trung vào hỗ trợ trực tiếp nhằm giải quyết khó khăn trước mắt. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, chính sách cần hướng tới nâng cao năng lực tự phát triển của cộng đồng, khuyến khích tính chủ động, sáng tạo và khơi dậy nội lực của đồng bào dân tộc thiểu số. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà phải trở thành chủ thể của quá trình phát triển.
(2) Cần chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị phát triển hiện đại. Việc xây dựng và triển khai chính sách dân tộc phải lấy hiệu quả thực tiễn và nhu cầu của người dân làm trung tâm; tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của cộng đồng trong toàn bộ quá trình hoạch định, thực hiện và giám sát chính sách.
(3) Đổi mới phương thức triển khai chính sách theo hướng số hóa và liên kết đa ngành. Chuyển đổi số cần được xem là động lực mới trong quản lý dữ liệu dân tộc, cung cấp dịch vụ công và kết nối đồng bào với các cơ hội phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, cần khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo chính sách bằng cơ chế phối hợp liên ngành và phân cấp rõ ràng giữa Trung ương và địa phương.
(4) Đổi mới tư duy chính sách dân tộc phải gắn với phát triển bền vững và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Phát triển kinh tế phải song hành với giữ gìn văn hóa truyền thống, bảo vệ môi trường và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Như vậy, đổi mới tư duy trong xây dựng và thực thi chính sách dân tộc chính là quá trình chuyển từ hỗ trợ ngắn hạn sang phát triển bền vững; từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại; từ phát triển phụ thuộc sang phát huy nội lực cộng đồng, góp phần nâng cao hiệu quả và tính bền vững của chính sách dân tộc trong giai đoạn mới hiện nay.
2.4. Giải pháp đổi mới tư duy và phương thức triển khai chính sách dân tộc góp phần nâng cao hiệu quả và tính bền vững trong giai đoạn mới
Trong giai đoạn phát triển mới, đổi mới tư duy và phương thức triển khai chính sách dân tộc cần được xác định là nhiệm vụ chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, phát huy nội lực cộng đồng và bảo đảm phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi:
Một là, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách dân tộc theo hướng đồng bộ, liên ngành và dài hạn, bảo đảm tính thống nhất giữa mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và quốc phòng an ninh. Chính sách dân tộc phải chuyển mạnh từ hỗ trợ mang tính bao cấp sang tạo sinh kế bền vững, nâng cao năng lực tự phát triển và khơi dậy khát vọng vươn lên của đồng bào dân tộc thiểu số.
Hai là, cần đổi mới phương thức triển khai chính sách theo hướng lấy người dân làm trung tâm và cộng đồng làm chủ thể phát triển. Tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách nhằm bảo đảm tính thực tiễn và hiệu quả. Đồng thời, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình rõ ràng.
Ba là, thúc đẩy chuyển đổi số trong công tác dân tộc, chính sách dân tộc. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu số, số hóa quản lý chính sách, phát triển dịch vụ công trực tuyến và nâng cao kỹ năng số cho đồng bào dân tộc thiểu số sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản trị và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền.
Bốn là, cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực quản trị, am hiểu văn hóa cộng đồng và khả năng ứng dụng công nghệ số. Đồng thời, gắn phát triển kinh tế với bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Như vậy, đổi mới tư duy và phương thức triển khai chính sách dân tộc phải hướng tới phát triển bền vững, phát huy nội lực cộng đồng và xây dựng nền quản trị hiện đại, qua đó nâng cao hiệu quả chính sách trong giai đoạn mới hiện nay.
2. Thảo luận
Từ vấn đề nêu trên có thể thấy, đổi mới tư duy và phương thức triển khai chính sách dân tộc không còn là yêu cầu mang tính điều chỉnh kỹ thuật, mà đã trở thành đòi hỏi chiến lược trong quá trình phát triển đất nước hiện nay. Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và sự biến đổi nhanh chóng của các điều kiện kinh tế - xã hội, nếu tiếp tục duy trì tư duy hỗ trợ thụ động thì hiệu quả chính sách dân tộc khó có thể bảo đảm tính bền vững lâu dài.
Thực tiễn cho thấy, nhiều chính sách dân tộc thời gian qua đã góp phần quan trọng trong giảm nghèo, phát triển hạ tầng và nâng cao đời sống người dân nói chung, đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng. Tuy nhiên, ở không ít địa phương, người dân vẫn chưa thực sự trở thành chủ thể phát triển; nội lực cộng đồng chưa được khơi dậy đầy đủ; cơ chế phối hợp, quản trị và giám sát chính sách còn hạn chế. Điều này đặt ra yêu cầu phải chuyển mạnh từ tư duy “hỗ trợ để tồn tại” sang “trao quyền để phát triển”.
Đặc biệt là cần nhìn nhận chính sách dân tộc không chỉ dưới góc độ an sinh xã hội mà phải tiếp cận theo hướng phát triển bền vững và quản trị hiện đại. Chính sách dân tộc cần gắn với chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực, bảo tồn văn hóa và nâng cao khả năng thích ứng của cộng đồng trước các thách thức mới như biến đổi khí hậu, di cư lao động và khoảng cách số.
Bên cạnh đó, việc đổi mới phương thức triển khai chính sách phải lấy người dân làm trung tâm, tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong toàn bộ quá trình xây dựng, thực thi và giám sát chính sách. Khi người dân thực sự trở thành chủ thể phát triển, chính sách dân tộc mới có thể phát huy hiệu quả lâu dài và tạo động lực phát triển bền vững.
Như vậy, đổi mới tư duy và phương thức triển khai chính sách dân tộc chính là chìa khóa nâng cao hiệu quả quản trị, phát huy nội lực cộng đồng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới hiện nay.
3. Kết luận
Đổi mới tư duy và phương thức triển khai chính sách dân tộc là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và bao trùm. Thực tiễn cho thấy, chỉ khi chuyển từ tư duy hỗ trợ thụ động sang tư duy phát triển nội sinh, lấy người dân làm trung tâm và cộng đồng làm chủ thể, chính sách dân tộc mới có thể phát huy hiệu quả lâu dài. Đồng thời, đổi mới phương thức thực thi theo hướng quản trị hiện đại, chuyển đổi số, minh bạch và tăng cường sự tham gia của người dân, đồng bào dân tộc thiểu số sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tính bền vững của chính sách. Đây không chỉ là nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội mà còn là giải pháp chiến lược củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới hiện nay .
* Bộ Dân tộc và Tôn giáo
** Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Bộ Chính trị (2019), Kết luận số 65-KL/TW, ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới.
3. Vũ Trường Giang (2026), Công tác dân tộc của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay, https://lyluanchinhtri.vn/ cong-tac-dan-toc-cua-he-thong-chinh-tri-o-viet-nam-hien nay-13538.html
4. Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025