Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Mô hình bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Lào Cai và bài học kinh nghiệm

Hoàng Thu - 1 giờ trước

(DTTG) - Tóm tắt: Lào Cai là vùng đất giàu truyền thống lịch sử và đa dạng bản sắc văn hóa với 34 dân tộc cùng sinh sống. Trên quan điểm văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển, địa phương đã triển khai nhiều mô hình sáng tạo nhằm gìn giữ di sản gắn với phát triển du lịch bền vững. Bài viết phân tích các điểm cốt lõi trong chiến lược bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số của tỉnh Lào Cai, từ việc khôi phục lễ hội, làng nghề, tri thức dân gian đến phát huy vai trò của cộng đồng và nghệ nhân. Từ đó, đúc kết những bài học kinh nghiệm sâu sắc và đưa ra một số đề xuất nhằm tiếp tục biến văn hóa thành nguồn lực nội sinh, tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.


Di sản văn hóa các dân tộc thiểu số - nguồn tài nguyên để phát triển du lịch tại Lào Cai
Di sản văn hóa các dân tộc thiểu số - nguồn tài nguyên để phát triển du lịch tại Lào Cai

Từ khóa: Tỉnh Lào Cai; Bảo tồn và phát huy; Di sản văn hóa; Dân tộc thiểu số.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc đang trở thành một thách thức lớn đối với nhiều quốc gia và địa phương. Tại Việt Nam, Đảng ta luôn nhấn mạnh quan điểm: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển. Quán triệt quan điểm của Đảng, tỉnh Lào Cai luôn xác định bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc là một nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt. Văn hóa không chỉ dừng lại ở các giá trị tinh thần cốt lõi mà còn được nhìn nhận như một nguồn lực quan trọng để thúc đẩy phát triển du lịch bền vững, từ đó trực tiếp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân địa phương. Nghiên cứu này nhằm làm rõ cách thức tỉnh Lào Cai đã và đang thực hiện để giải quyết hài hòa bài toán giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế từ nguồn lực di sản văn hóa trong cộng đồng các dân tộc thiểu số.

2. Tổng quan về tiềm năng và nguồn lực văn hoá tại tỉnh Lào Cai

Lào Cai là tỉnh biên giới thuộc vùng Tây Bắc, giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng khi đóng vai trò là cửa ngõ kết nối toàn bộ hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Toàn tỉnh trải dài trên diện tích hơn 13.256 km², là nơi cư trú của gần 1,8 triệu người. Đặc trưng nhân khẩu học lớn nhất làm nên sự phong phú về văn hóa của tỉnh là đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 57,6% dân số, với sự hội tụ của 34 dân tộc sinh sống trải đều trên 99 xã, phường. Chính sự đa dạng này đã biến Lào Cai thành một kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng đặc sắc.

Thống kê cho thấy, hiện nay, Lào Cai đang sở hữu và quản lý 207 di tích được xếp hạng, bao gồm 01 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 34 di tích quốc gia và 172 di tích cấp tỉnh. Bên cạnh đó, tỉnh còn có 60 di sản văn hóa phi vật thể được ghi danh, nổi bật nhất là 04 di sản được UNESCO vinh danh di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại như: “Nghi lễ và trò chơi kéo co Tày, Giáy”; “Thực hành Then Tày, Nùng, Thái; nghệ thuật Xòe Thái và 56 di sản khác thuộc danh mục cấp quốc gia do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận.

Cùng với rất nhiều các nghi lễ, lễ hội dân gian truyền thống, các loại hình di sản văn hóa vật thể và phi vật thể các dân tộc đã góp phần tạo nên cho Lào Cai một sức hút đầy hấp dẫn. Với việc xác định di sản văn hóa các dân tộc là một loại tài nguyên quan trọng trong định hướng phát triển du lịch của tỉnh Lào Cai, nên trong những năm qua các cấp, các ngành của tỉnh luôn đồng hành cùng đồng bào các dân tộc tiến hành bảo tồn và phát huy giá trị của các loại hình di sản văn hóa hiện có, phục dựng, khôi phục những di sản văn hóa đã mai một để cùng chung tay bảo vệ. Đồng thời với đó là việc gắn bảo tồn với phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của tỉnh. Hiện nay, mỗi năm, Nhân dân các dân tộc ở Lào Cai thường tổ chức hàng chục nghi lễ, lễ hội truyền thống với quy mô khác nhau, tạo thành những sản phẩm du lịch độc đáo thu hút hàng nghìn lượt khách đến tham dự mỗi lần tổ chức, như: lễ hội Roóng Poọc của người Giáy ở Tả Van, lễ hội Gầu Tào người Mông ở Pha Long, lễ hội Đền Bảo Hà, lễ hội Đền Thượng, lễ hội Lồng tồng của người Tày, lễ mừng cơm mới người Giáy, lễ Cấp sắc người Dao, lễ cưới truyền thống người Giáy, người Hà Nhì,… Đây là nền tảng tài nguyên vô giá để địa phương khai thác và phát huy, đưa văn hóa dân tộc trở thành một nguồn lực phát triển kinh tế.

3. Những mô hình bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc tại tỉnh Lào Cai

Qua nghiên cứu, có thể rút ra 5 mô hình cốt lõi trong bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Lào Cai như sau:

Thứ nhất, mô hình bảo tồn lễ hội truyền thống gắn liền với phát triển du lịch cộng đồng

Thay vì để mai một hoặc chỉ tổ chức nội bộ quy mô nhỏ, Lào Cai đã biến lễ hội thành những sản phẩm du lịch có sức hút mạnh mẽ. Hằng năm, toàn tỉnh diễn ra trên 100 lễ hội truyền thống. Rất nhiều trong số đó đã trở thành những sự kiện du lịch mang tính biểu tượng, như: Lễ hội Xuống đồng (của người Tày, Nùng, Giáy); lễ hội Gầu Tào của người Mông (tại các xã Pha Long, Sín Chéng, Trạm Tấu); lễ hội Nhảy lửa của người Dao Đỏ (Bắc Hà); lễ hội Khô già già của người Hà Nhì (Bát Xát), lễ hội Cốm của người Tày (Nghĩa Đô). Ngoài ra, còn có hệ thống các lễ hội tín ngưỡng dân gian đầu xuân tại đền Thượng, đền Trung Đô, đền Bảo Hà, đền Đông Cuông...

Các lễ hội được tổ chức theo hướng giữ gìn nghi thức truyền thống, nhưng kiên quyết giảm tính hình thức, tăng cường trải nghiệm văn hóa cho người tham gia. Sự đột phá lớn nhất nằm ở phương thức quản lý. Lào Cai thực hiện trao quyền làm chủ lễ hội cho chính cộng đồng, dựa chủ yếu vào các nghệ nhân và chủ thể di sản. Cơ quan quản lý nhà nước chỉ thực hiện vai trò định hướng, hỗ trợ chuyên môn, đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường và đẩy mạnh công tác quảng bá du lịch. Nhờ sự phân vai rõ ràng này, sức hút của các lễ hội tăng vọt, trung bình mỗi lễ hội đầu xuân đón 3.000 - 4.000 lượt khách, riêng đầu năm 2026, các sự kiện như lễ hội Đền Thượng và lễ hội Đền Đông Cuông đã ghi nhận con số kỷ lục lên tới gần 10.000 lượt người tham dự.

Thứ hai, mô hình bảo tồn làng văn hóa truyền thống gắn với sinh kế bền vững

Di sản văn hóa chỉ thực sự sống khi nó tồn tại trong đời sống thường nhật của người dân. Nhận thức rõ điều này, tỉnh Lào Cai đã định hướng công tác bảo tồn không tách rời khỏi mục tiêu tạo sinh kế, thông qua việc đầu tư xây dựng các làng văn hóa truyền thống gắn với du lịch cộng đồng. Bằng nguồn lực từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đặc biệt là Dự án 6: Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch, tỉnh Lào Cai đã ưu tiên đầu tư và hỗ trợ xây dựng nhiều mô hình làng văn hóa truyền thống, tiêu biểu như: Làng dân tộc Mông tại thôn Bản Phố (xã Bản Phố), làng dân tộc Hà Nhì ở thôn Choản Thèn (xã Y Tý), làng dân tộc Tày ở thôn Nặm Cằm (xã Nghĩa Đô). Đây là sự đổi mới tư duy rất quan trọng, thay vì đầu tư dàn trải, Lào Cai tập trung nguồn lực xây dựng các mô hình làng văn hóa truyền thống tiêu biểu, mang tính đại diện cao cho từng nhóm dân tộc. Việc thiết lập các mô hình điểm này giúp tạo ra những “bảo tàng sống”, nơi mọi giá trị từ kiến trúc, lối sống đến nghệ thuật đều hội tụ đầy đủ.

Về phương thức can thiệp và hỗ trợ cộng đồng, tại các địa bàn trọng điểm trên, chính quyền không làm thay người dân mà đóng vai trò hỗ trợ, cấp vốn và nâng cao năng lực. Cụ thể, về phần cứng, người dân được trực tiếp hỗ trợ để chỉnh trang lại nhà ở truyền thống, chú trọng việc gìn giữ nguyên vẹn kiến trúc tộc người và bảo vệ các không gian văn hóa sinh hoạt chung của cộng đồng. Về mặt dịch vụ và nhân lực (phần mềm), các cơ quan chuyên môn hướng dẫn đồng bào cách thức tổ chức và phát triển các mô hình homestay lưu trú đạt chuẩn. Đặc biệt, đồng bào được tham gia các khóa đào tạo để trở thành những hướng dẫn viên, tự mình thuyết minh và kể câu chuyện văn hóa của dân tộc mình cho du khách. Về trải nghiệm văn hóa, tỉnh khuyến khích và hỗ trợ bà con tổ chức các buổi trình diễn văn nghệ dân gian, đưa nghệ thuật ẩm thực truyền thống và các sản phẩm thủ công đặc trưng vào giới thiệu, phục vụ du khách.

Thông qua sự kết hợp hài hòa giữa bảo tồn kiến trúc, nâng cao năng lực con người và phát triển dịch vụ, các di sản văn hóa tại Lào Cai đã thực sự được “sống” và hiện diện sinh động trong đời sống đương đại. Mô hình làng văn hóa truyền thống đã bước đầu chứng minh được tính đúng đắn khi từng bước biến tài nguyên văn hóa thành nguồn lực cốt lõi để phát triển du lịch cộng đồng. Hiệu quả lớn nhất đạt được là mô hình này trực tiếp tạo ra việc làm và nâng cao thu nhập ổn định cho người dân địa phương, từ đó hình thành một vòng lặp phát triển bền vững: văn hóa tạo ra sinh kế và sinh kế tốt quay trở lại cung cấp nguồn lực vật chất và động lực tinh thần để người dân thêm yêu và tự giác bảo vệ di sản của dân tộc mình.

Thứ ba, mô hình khôi phục các nghi lễ, nghệ thuật trình diễn và tri thức dân gian

Bảo vệ di sản phi vật thể chính là bảo vệ phần “hồn” của văn hóa tộc người. Việc bảo tồn văn hóa phi vật thể đòi hỏi sự tỷ mỉ trong công tác phục dựng. Nhiều phong tục đẹp, nghi lễ đặc sắc và phong tục cốt lõi có nguy cơ mai một đã được tỉnh Lào Cai quan tâm đầu tư, phục dựng bài bản, như nghi lễ Then Khoăn của dân tộc Tày (thôn Nhuần 3, xã Tằng Loỏng), lễ hội hát Qua làng đầu xuân của người Dao Tuyển (thôn Khe Dùng, xã Bảo Thắng), lễ hội cúng rừng thiêng của người Dao Đỏ (xã Dền Sáng).

Để dòng chảy văn hóa dân gian các dân tộc thiểu số không bị đứt gãy, tỉnh Lào Cai đã tạo mạng lưới bệ đỡ vững chắc thông qua việc khuyến khích phát triển các câu lạc bộ văn hóa cơ sở hoạt động thực chất, như: Câu lạc bộ sinh hoạt văn hóa dân tộc Xá Phó tại thôn An Thành, xã Gia Phú; Câu lạc bộ sinh hoạt văn hóa dân gian dân tộc Mông xã Dền Sáng; các câu lạc bộ múa khèn, múa sênh tiền thôn Ải Nam, xã Phong Hải. Qua đó góp phần gìn giữ, phát huy và lan tỏa bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc.

Bước tiến sâu sắc và mang tính chiến lược nhất là việc chủ động đưa các giá trị văn hóa truyền thống này vào không gian trường học và lồng ghép trong các chương trình du lịch trải nghiệm. Cách làm này tạo ra một hệ sinh thái thuận lợi để bảo tồn gắn với truyền dạy tự nhiên, giúp thế hệ trẻ tiếp thu di sản một cách gần gũi và biến di sản thành một phần hữu cơ sinh động trong đời sống đương đại.

Thứ tư, mô hình bảo tồn nghề thủ công truyền thống

Nghề thủ công chứa đựng kỹ năng, tri thức và quan niệm thẩm mỹ độc đáo, là những minh chứng vật chất tinh tế nhất cho bản sắc của mỗi tộc người. Bảo tồn và phát triển nghề thủ công truyền thống chính là cách để bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người. Với quan điểm đó, tỉnh Lào Cai đã nỗ lực khôi phục và phát triển nhiều nghề thủ công đặc trưng, như: nghề chạm khắc bạc tại các xã Mường Hum, Bắc Hà, Ngũ Chỉ Sơn; nghề đan lát của đồng bào Hà Nhì tại xã Y Tý, của người Tày xã Nghĩa Đô; nghề dệt thổ cẩm của người Thái ở Nghĩa Lộ, Văn Chấn; nghề rèn của người Mông tại Trạm Tấu, Mù Cang Chải... Qua đó góp phần gìn giữ những kỹ thuật thủ công đặc sắc và bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc.

Tư duy đột phá của địa phương nằm ở chỗ xác định việc bảo tồn nghề truyền thống phải gắn chặt với nhu cầu thực tiễn của thị trường thì mới có thể tồn tại bền vững. Do đó, chính quyền địa phương không chỉ hỗ trợ bảo tồn kỹ thuật mà còn can thiệp sâu vào chuỗi giá trị bằng cách hỗ trợ người dân xây dựng thương hiệu, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và kết nối tiêu thụ thông qua các kỳ hội chợ, ngày hội văn hóa - du lịch, cũng như gắn trực tiếp sản phẩm vào các tour, tuyến du lịch. Cách tiếp cận này giúp nâng tầm giá trị hàng hóa thủ công, tạo ra việc làm và mang lại nguồn thu nhập ổn định thay vì chỉ là công việc lúc nông nhàn, từ đó khích lệ đồng bào gắn bó lâu dài với nghề của cha ông.

Thứ năm, đề cao và phát huy tối đa vai trò của nghệ nhân, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số

Con người luôn là trung tâm của mọi quá trình sáng tạo, thực hành và truyền dạy di sản. Nhận thức sâu sắc điều này, Lào Cai đã và đang xây dựng được một mạng lưới “bảo vật sống” đáng tự hào với 45 nghệ nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu (gồm 02 nghệ nhân nhân dân, 43 nghệ nhân ưu tú), cùng 45 nghệ nhân cấp tỉnh trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể và 20 nghệ nhân dân gian.

Tỉnh Lào Cai đặc biệt coi trọng, ghi nhận vai trò của già làng, trưởng bản, nghệ nhân và người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số chính là lực lượng nòng cốt, là những trụ cột trong việc giữ gìn vốn quý văn hóa của dân tộc. Do đó, tỉnh đặc biệt trao quyền và phát huy triệt để vị thế, tiếng nói của đội ngũ già làng, trưởng bản cùng người có uy tín trong cộng đồng. Họ không chỉ là những “người thầy” trực tiếp đứng ra truyền dạy tiếng nói, chữ viết, dân ca, dân vũ cho con cháu mà còn là “thủ lĩnh tinh thần” vận động Nhân dân giữ gìn những phong tục, tập quán tốt đẹp, xây dựng nếp sống văn hóa cơ sở, kiên quyết bài trừ hủ tục và tiên phong dẫn dắt cộng đồng tham gia vào các mô hình phát triển du lịch cộng đồng và xây dựng nếp sống văn minh.

Bên cạnh những kết quả tích cực, các mô hình bảo tồn văn hóa gắn với du lịch tại Lào Cai vẫn đối mặt nhiều thách thức. Một số nơi còn phụ thuộc vào nguồn hỗ trợ của Nhà nước, tính tự chủ và khả năng liên kết thị trường chưa cao. Nguy cơ thương mại hóa lễ hội, mai một giá trị nguyên gốc và thiếu lớp nghệ nhân kế cận vẫn hiện hữu. Chuyển đổi số trong bảo tồn văn hóa tuy được chú trọng nhưng chưa đồng đều giữa các địa phương…

4. Một số bài học kinh nghiệm

Từ chuỗi các mô hình can thiệp đồng bộ, những kết quả tích cực đã đạt được cùng một số thách thức có thể nhận diện ở Lào Cai, có thể đúc kết một số bài học kinh nghiệm, mang tính nguyên tắc cho công tác quản lý và bảo tồn di sản như sau:

Một là, kiên định nguyên tắc lấy cộng đồng làm trung tâm: Bảo tồn văn hóa không thể thành công nếu tách rời người dân. Do đó, bảo tồn văn hóa không thể áp đặt từ trên xuống. Người dân địa phương phải được định vị vừa là chủ nhân sáng tạo ra di sản, vừa là người trực tiếp hưởng lợi từ những giá trị văn hóa đó. Nhà nước chỉ nên giữ vai trò định hướng, hỗ trợ chuyên môn, đảm bảo an ninh và tuyên truyền quảng bá.

Hai là, nguyên tắc “văn hóa song hành cùng sinh kế”: Để di sản được gìn giữ và có sức sống lâu dài, bền vững, mọi nỗ lực bảo tồn bắt buộc phải gắn liền với phát triển kinh tế, trong đó trọng tâm lớn nhất là chiến lược phát triển du lịch cộng đồng và phát triển các sản phẩm đặc trưng mang thương hiệu địa phương.

Ba là, nguyên tắc “kế thừa”: Cần liên tục bồi dưỡng, truyền lửa tình yêu văn hóa dân tộc cho thế hệ trẻ thông qua các hoạt động giáo dục truyền thống, kết hợp với việc linh hoạt ứng dụng công nghệ số vào công tác lưu trữ, quản lý và quảng bá di sản.

Bốn là, nguyên tắc “huy động sức mạnh tổng hợp”: Công cuộc bảo vệ di sản là một thách thức to lớn, đòi hỏi phải có sự chung tay, đồng bộ các nguồn lực từ sự điều phối của Nhà nước, sự đồng hành của khối doanh nghiệp cho đến sự đóng góp của toàn xã hội.

5. Kết luận

Bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số không chỉ là tài sản vô giá mà còn là cội nguồn tạo nên sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ thực tiễn triển khai tại tỉnh Lào Cai, có thể khẳng định giải quyết tốt mối quan hệ hữu cơ giữa bảo tồn di sản và phát triển du lịch - sinh kế chính là chìa khóa vàng để duy trì sự sống cho văn hóa truyền thống. Tỉnh Lào Cai với sự linh hoạt, sáng tạo và lấy người dân là gốc sẽ tiếp tục nỗ lực gìn giữ kho tàng di sản quý báu này, từng bước biến văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh, tạo đà vững chắc cho công cuộc phát triển nhanh và bền vững của địa phương.

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết số 80-NQ/ TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Hà Nội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội XIV, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.

3. Tham luận của tỉnh Lào Cai tại Hội nghị văn hóa dân tộc toàn quốc (tháng 4/2026).