Nhằm thích ứng điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, người dân nơi đây đã hình thành nên nhiều kỹ năng trong cuộc sống, sản xuất; nổi bật là tri thức canh tác hốc đáNgày nay, khi đứng trên những triền núi thuộc vùng Cao nguyên đá Đồng Văn, du khách không khỏi ngỡ ngàng trước màu xanh trải dài của những nương ngô bám chặt vào các sườn núi đá dựng đứng. Ít ai biết rằng, để có được những mùa vàng trên đá ấy là biết bao thế hệ người Mông đã đổ mồ hôi, công sức, thậm chí cả tuổi thanh xuân để chinh phục thiên nhiên.
Ông Nguyên Văn Dưng, Ủy viên BCH Đảng bộ tỉnh, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Tuyên Quang cho biết: Cao nguyên đá Đồng Văn, vùng lõi của Công viên địa chất toàn cầu UNESCO trải rộng trên địa bàn 23 xã thuộc tỉnh Tuyên Quang hiện nay, là nơi sinh sống của hơn 280 nghìn người, trong đó đồng bào Mông chiếm trên 70%. Đây là một trong những vùng địa chất đặc biệt nhất Việt Nam với hơn 80% diện tích là núi đá vôi. Nhìn từ trên cao, cả vùng đất hiện lên như một rừng đá bất tận.
Nhưng chính trong môi trường tưởng như không thể canh tác ấy, người Mông đã viết nên câu chuyện kỳ diệu về sự thích nghi và sáng tạo.
Theo TS. Lò Giàng Páo, Phó Chủ tịch Hội Hỗ trợ Kinh tế miền núi Việt Nam chia sẻ: Người Mông bắt đầu di cư đến vùng cao nguyên đá cách đây hàng trăm năm. Khi ấy, nơi đây còn nhiều rừng nguyên sinh, đất đai màu mỡ. Cuộc sống ban đầu gắn với tập quán phát nương làm rẫy. Tuy nhiên, theo thời gian, diện tích rừng dần thu hẹp, đất sản xuất ngày càng khan hiếm trong khi dân số tăng lên.
Không còn những cánh rừng mới để mở nương, người Mông buộc phải thay đổi phương thức sinh tồn. Từ sự khắc nghiệt của thiên nhiên, họ đã tìm ra con đường riêng: canh tác trên đá. Đó là bước ngoặt lịch sử trong đời sống của cộng đồng người Mông trên cao nguyên.
Ông Nguyễn Thanh Giang, Phó Trưởng Ban Quản lý Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn cho biết: “Thổ canh hốc đá là tri thức địa phương đặc biệt quý giá của đồng bào Mông. Đây không chỉ là kỹ thuật sản xuất mà còn là kết tinh của quá trình thích nghi lâu dài với môi trường tự nhiên khắc nghiệt”.
Khác với những vùng sản xuất nông nghiệp thông thường, trên cao nguyên đá, đất trở thành tài sản vô cùng quý giá. Người Mông tận dụng từng hốc đá nhỏ, từng khe đá tự nhiên để gieo trồng. Những nơi hoàn toàn không có đất, họ dùng gùi vận chuyển từng gùi đất từ chân núi lên đổ vào các hốc đá.
Đặc biệt, một hốc đá nhỏ có khi phải mất nhiều tháng, thậm chí nhiều năm mới đủ lượng đất để trồng được vài gốc ngô. Đó là công việc đòi hỏi sự kiên trì phi thường.
Và nhiều người già ở Đồng Văn vẫn kể rằng: Có những nương ngô ngày nay là thành quả của ba, bốn thế hệ trong một gia đình. Ông bà gùi đất, cha mẹ tiếp tục đắp đất và con cháu là những người được hưởng thành quả.
Trên những triền núi dựng đứng, người Mông còn sáng tạo ra hệ thống bờ đá bao quanh các nương canh tác. Những bờ đá này được xếp thủ công từ các tảng đá mồ côi, có tác dụng giữ đất, giữ nước và chống xói mòn. Nhìn từ xa, các bờ đá nối tiếp nhau như những nét vẽ khổng lồ trên sườn núi. Đó không chỉ là công trình lao động, đồng thời còn là dấu ấn văn hóa của một cộng đồng cư dân sống dựa vào đá.
Để có được những nương ngô, hoa màu xanh tốt, người Mông trải qua quá trình cần mẫn, khéo léo xếp đá, tạo thành mảnh nươngNgười Mông có câu nói: “Sống trên đá, chết vùi trong đá”. Câu nói ấy phản ánh chân thực cuộc sống của họ nhưng đồng thời cũng thể hiện ý chí chinh phục thiên nhiên mãnh liệt.
Nếu như nhiều vùng đất khác coi đá là trở ngại thì người Mông lại xem đá là người bạn đồng hành.
Từ đá, họ dựng nhà.
Từ đá, họ làm hàng rào.
Và từ đá, họ tạo nên những cánh đồng ngô xanh mướt.
Ngày nay, kỹ thuật thổ canh hốc đá không còn đơn thuần là cách thức mưu sinh mà đã trở thành một di sản văn hóa đặc sắc của vùng cao nguyên đá.
Những hạt ngô gieo xuống hốc đá không chỉ nuôi sống con người, đặc biệt còn nuôi dưỡng bản sắc văn hóa của cả một cộng đồng.
Hiện nay, cây ngô vẫn là cây trồng chủ lực trên cao nguyên đá, bảo đảm lương thực cho hàng chục nghìn hộ dân. Tuy nhiên, điều đáng ghi nhận là người dân không còn bó hẹp trong phương thức sản xuất truyền thống.
Những năm gần đây, cùng với sự hỗ trợ của các chương trình, chính sách của Trung ương, nhất là chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (gọi tắt là Chương trình 1719), người Mông đã từng bước ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Nhiều giống ngô mới có năng suất cao được đưa vào canh tác. Các mô hình xen canh cây đậu tương, bí đỏ, rau cải, cây dược liệu phát triển mạnh. Bên cạnh đó, một số địa phương còn trồng các loại cỏ chất lượng cao phục vụ chăn nuôi bò hàng hóa... Nhờ đó, hiệu quả kinh tế trên cùng diện tích đất được nâng lên đáng kể.
Điều thú vị là chính những nương đá từng được tạo ra để tạo sinh kế, giờ đây lại trở thành tài nguyên du lịch quý giá.
Ngoài ra, cứ vào dịp cuối thu, khi hoa tam giác mạch phủ tím khắp các triền núi, Cao nguyên đá Đồng Văn lại đón hàng trăm nghìn lượt du khách trong và ngoài nước. Những cánh đồng hoa mọc lên từ các nương đá tạo nên vẻ đẹp vừa hùng vĩ vừa lãng mạn.
Du khách đến không chỉ để ngắm hoa, đồng thời còn để tìm hiểu cuộc sống của người Mông, khám phá kỹ thuật thổ canh hốc đá và trải nghiệm những giá trị văn hóa địa phương đặc sắc.
Từ những hốc đá khô cằn, người dân đã tạo ra nguồn sinh kế mới từ du lịch cộng đồng. Nhiều hộ gia đình mở homestay, bán sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm thổ cẩm và dịch vụ trải nghiệm văn hóa. Nhờ có thu nhập tăng lên đã giúp đời sống của đồng bào ngày càng cải thiện.
Và quan trọng hơn, tri thức canh tác truyền thống không bị mai một mà được tiếp tục gìn giữ, truyền lại cho thế hệ trẻ.
Theo các chuyên gia, nhà nghiên cứu đánh giá, thổ canh hốc đá là một trong những mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu đặc sắc nhất ở vùng núi phía Bắc Việt Nam. Trong bối cảnh đất đai ngày càng bị thu hẹp, tài nguyên thiên nhiên chịu nhiều áp lực, kinh nghiệm của người Mông về bảo vệ đất, giữ nước và canh tác bền vững mang nhiều giá trị tham khảo.
Đó là minh chứng cho thấy tri thức địa phương không hề lạc hậu mà ngược lại, chứa đựng nhiều bài học quý giá cho phát triển bền vững.
Ngày nay, đứng giữa những cánh đồng ngô xanh ngắt trên lưng chừng núi đá, người ta càng thấu hiểu hơn ý nghĩa của sức lao động và ý chí con người. Mỗi hạt ngô trên cao nguyên đá đều mang trong mình câu chuyện của sự kiên trì, chịu khó. Mỗi bờ đá xếp chồng lên nhau là dấu tích của biết bao tháng năm nhọc nhằn. Và mỗi nương đá xanh màu sự sống chính là minh chứng sống động cho khát vọng vươn lên của đồng bào Mông nơi địa đầu Tổ quốc.
Chính sự khó khăn khắc nghiệt của thiên nhiên ấy đã giúp người Mông càng nỗ lực vươn lên và tạo nên những mùa xanh. Và giờ đây, họ đã tạo dựng cuộc sống ổn định bằng chính đôi bàn tay lao động cần cù và trí tuệ địa phương độc đáo.
Và vì vậy, bí quyết canh tác trên núi đá không chỉ là câu chuyện sản xuất nông nghiệp. Đó còn là câu chuyện về nghị lực sinh tồn, về khả năng thích ứng kỳ diệu của con người trước thiên nhiên và là một trong những giá trị văn hóa đặc sắc làm nên bản sắc của Cao nguyên đá Đồng Văn (tỉnh Tuyên Quang), vùng đất đá nở hoa nơi cực Bắc Việt Nam./.