Một góc Hồ Ba BểNhững năm gần đây, miền núi phía Bắc đang chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy phát triển kinh tế của người dân. Nếu trước đây, sinh kế chủ yếu dựa vào canh tác nhỏ lẻ, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên thì nay, nhiều địa phương đã chủ động tìm kiếm những hướng đi mới phù hợp với lợi thế địa phương và nhu cầu của thị trường.
Một trong những mô hình thành công nhất là phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc. Tại nhiều địa phương như Sa Pa, Bắc Hà, Mù Cang Chải (tỉnh Lào Cai); Sìn Suối Hồ (tỉnh Lai Châu); Bản Che Căn (xã Mường Phăng, tỉnh Điện Điên), Bản Tả Kố Khừ (xã Sín Thầu, tỉnh Điện Biên), Bản Mển (xã Thanh Nưa, tỉnh Điện Biên), Mộc Châu (tỉnh Sơn La), Đồng Văn, Mèo Vạc (tỉnh Tuyên Quang), Ba Bể (tỉnh Thái Nguyên),… hàng nghìn hộ dân đã tham gia làm du lịch homestay, cung cấp dịch vụ trải nghiệm văn hóa, ẩm thực và nghề truyền thống.
Từ những ngôi nhà sàn giản đơn, nhiều gia đình người Mông, Dao, Tày, Thái,… đã xây dựng được mô hình kinh doanh hiệu quả, tạo việc làm cho lao động địa phương và nâng cao thu nhập. Có những hộ gia đình đạt doanh thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm từ hoạt động du lịch cộng đồng.
Bên cạnh du lịch, phát triển cây dược liệu dưới tán rừng cũng đang trở thành hướng đi đầy triển vọng. Các loại cây như đương quy, atiso, tam thất, sa nhân tím, hà thủ ô, hay sâm (tỉnh Lai Châu) không chỉ phù hợp với điều kiện khí hậu vùng cao, miền núi, đồng thời còn có giá trị kinh tế cao gấp nhiều lần so với cây lương thực truyền thống.
Đặc biệt, một mô hình khác đang mang lại hiệu quả tích cực là phát triển nông nghiệp hàng hóa gắn với sản phẩm OCOP. Các vùng chè Shan tuyết cổ thụ ở các tỉnh Tuyên Quang, Lào Cai; quế Văn Yên (tỉnh Lào Cai); mận Mộc Châu (tỉnh Sơn La); cam Bắc Quang (tỉnh Tuyên Quang), hay lê Tai nung ở tỉnh Lào Cai,… đang từng bước xây dựng thương hiệu trên thị trường trong nước và quốc tế.
Nhiều hợp tác xã do đồng bào dân tộc thiểu số làm chủ đã áp dụng quy trình sản xuất sạch, truy xuất nguồn gốc và thương mại điện tử để nâng cao giá trị sản phẩm. Nhờ đó, thu nhập của người dân tăng lên đáng kể, góp phần giảm nghèo bền vững.
Đặc biệt, kinh tế rừng đang được xem là một trong những hướng chuyển đổi sinh kế bền vững nhất hiện nay. Nhiều địa phương đã thực hiện hiệu quả chính sách giao khoán bảo vệ rừng, chi trả dịch vụ môi trường rừng kết hợp phát triển các sản phẩm dưới tán rừng. Nhờ đó, người dân vừa có nguồn thu ổn định, vừa nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Nhiều hộ gia đình đã có thêm hàng chục triệu đồng mỗi năm từ nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng và các hoạt động kinh tế lâm nghiệp.
Tiến sĩ Trần Hữu Sơn, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai cho rằng: “Điểm chung của các mô hình sinh kế thành công ở vùng núi phía Bắc là biết khai thác lợi thế văn hóa và tài nguyên địa phương. Chuyển đổi sinh kế hiệu quả không phải là thay thế hoàn toàn cái cũ bằng cái mới, mà là phát huy những giá trị vốn có của cộng đồng bằng tư duy phát triển hiện đại. Văn hóa dân tộc, tri thức địa phương, cảnh quan thiên nhiên và sản vật địa phương chính là những nguồn lực quý giá mà nhiều nơi đang khai thác rất hiệu quả”.
Thực tế cho thấy, những mô hình thành công nhất đều là những mô hình đặt người dân vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể trực tiếp tham gia sản xuất, kinh doanh và hưởng lợi từ các chính sách hỗ trợ.
Có thể thấy rằng, chuyển đổi sinh kế đang trở thành chìa khóa quan trọng giúp vùng núi phía Bắc phát huy tiềm năng, thế mạnh và từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển với các vùng khác trong cả nước.
Từ những bản làng nơi miền sơn cước, những mô hình sinh kế mới đang từng ngày mang đến niềm tin về một tương lai phát triển bền vững. Đó không chỉ là câu chuyện tăng thu nhập hay giảm nghèo mà còn là hành trình khơi dậy nội lực, gìn giữ bản sắc văn hóa và xây dựng những cộng đồng dân cư tự chủ, giàu bản sắc trong thời kỳ hội nhập./.