Nhiều địa phương đã thành lập được các mô hình quản lý rừng cộng đồng tại các thôn, bản mang lại hiệu quả, không chỉ bảo vệ và phát triển rừng mà còn nâng cao thu nhập cho cộng đồng, người dân trực tiếp tham giaRừng, nguồn lực phát triển của cộng đồng
Đối với nhiều địa phương miền núi, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, rừng từ lâu đã trở thành một phần không thể tách rời của đời sống kinh tế, văn hóa và tinh thần. Những cánh rừng đầu nguồn giữ nước cho sản xuất nông nghiệp; những khu rừng tự nhiên cung cấp lâm sản ngoài gỗ, dược liệu quý, nguồn thực phẩm tự nhiên và là không gian lưu giữ các giá trị văn hóa truyền thống.
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam hiện có trên 14,8 triệu ha rừng với tỷ lệ che phủ duy trì khoảng 42%. Trong đó, phần lớn diện tích rừng nằm tại các tỉnh miền núi, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Đây vừa là nguồn tài nguyên quý giá, vừa là nền tảng quan trọng để phát triển kinh tế xanh và sinh kế bền vững.
Thực tế cho thấy, khi rừng được bảo vệ tốt, người dân có điều kiện phát triển các mô hình kinh tế dưới tán rừng như trồng dược liệu, nuôi ong lấy mật, sản xuất nông lâm kết hợp, phát triển du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng. Những mô hình này không chỉ tạo việc làm mà còn giúp nâng cao thu nhập cho người dân vùng cao.
Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược chính sách nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết: Một trong những thành công lớn của công tác bảo vệ rừng những năm qua là việc thực hiện chính sách giao đất, giao rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Tại nhiều địa phương như Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Cao Bằng, Quảng Ngãi,… hàng nghìn hộ dân và cộng đồng thôn bản đã trực tiếp tham gia quản lý, bảo vệ rừng. Thông qua nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng, nhiều hộ gia đình có thêm nguồn thu nhập ổn định từ vài triệu đến hàng chục triệu đồng mỗi năm.
Đặc biệt, điều quan trọng hơn là người dân đã thực sự trở thành chủ thể của công tác bảo vệ rừng. Khi quyền lợi gắn với trách nhiệm, mỗi cánh rừng trở thành tài sản chung của cộng đồng.
Nhiều già làng, trưởng bản, người có uy tín đã trở thành những người gác rừng tận tụy. Họ vận động bà con không khai thác rừng trái phép, không săn bắt động vật hoang dã và tích cực tham gia tuần tra, bảo vệ rừng. Chính sự đồng thuận ấy đã tạo nên những lá chắn vững chắc để bảo vệ rừng.
Thông qua các mô hình quản lý rừng cộng đồng tại các thôn bản, công tác bảo vệ, phát triển rừng đã có nhiều chuyển biến tích cực, ý thức người dân được nâng lên; qua đó góp phần hạn chế các vụ vi phạm liên quan đến rừng, thúc đẩy phát triển kinh tế rừng bền vữngPhát triển sinh kế từ rừng, hướng đi bền vững
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển kinh tế xanh ngày càng trở nên cấp thiết, phát triển sinh kế dưới tán rừng được xem là giải pháp mang tính chiến lược.
Nhiều mô hình đã chứng minh hiệu quả rõ nét. Tại các tỉnh khu vực Tây Bắc, cây sa nhân tím, đương quy, đẳng sâm hay thất diệp nhất chi hoa,… được trồng dưới tán rừng mang lại giá trị kinh tế cao gấp nhiều lần so với canh tác truyền thống. Còn ở Tây Nguyên, mô hình nuôi ong dưới tán rừng và phát triển du lịch sinh thái cộng đồng đang mở ra nguồn thu nhập ổn định cho người dân.
Không chỉ tạo sinh kế, các mô hình kinh tế rừng còn góp phần hạn chế tình trạng phá rừng làm nương rẫy, giảm áp lực khai thác tài nguyên và bảo tồn đa dạng sinh học.
Đây chính là hướng phát triển hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, giữa lợi ích kinh tế với trách nhiệm bảo vệ môi trường.
Tiến sĩ Nguyễn Hồng Vĩ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách dân tộc, Học viện Dân tộc, Uỷ ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo) cho biết: Thực tiễn đã khẳng định, bảo vệ rừng không thể chỉ dựa vào lực lượng kiểm lâm hay chính quyền địa phương mà cần sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cư. Khi người dân được hưởng lợi từ rừng, họ sẽ chủ động gìn giữ và phát triển tài nguyên quý giá này.
Trong giai đoạn hiện nay, việc triển khai hiệu quả các chính sách lâm nghiệp, phát triển kinh tế dưới tán rừng, chi trả dịch vụ môi trường rừng và hỗ trợ sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số cần tiếp tục được quan tâm hơn nữa. Đây không chỉ là giải pháp bảo vệ môi trường mà còn là con đường quan trọng để giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân miền núi.
Giữ rừng chính là giữ nguồn nước, giữ môi trường sống, giữ bản sắc văn hóa và giữ tương lai cho các thế hệ mai sau. Khi những cánh rừng xanh tiếp tục được gìn giữ và phát triển, đó cũng là lúc những bản làng vùng cao có thêm cơ hội vươn lên, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc và phát triển bền vững./.