Hội nghị được tổ chức nhằm quán triệt những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị, góp phần triển khai hiệu quả chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn phát triển mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và chỉ đạo Hội nghị. Ảnh Báo Nhân DânTổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị.
Cùng dự Hội nghị có các đồng chí: Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ; Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội; Nguyễn Sinh Hùng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội; Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng.
Các đại biểu dự hội nghị tại điểm cầu Nhà Quốc hội. Ảnh Phạm HảiHội nghị còn được kết nối với gần 35.000 điểm cầu ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã, cơ quan, đơn vị, quân khu, quân chủng, quân đoàn trên toàn quốc; với gần 2,1 triệu đại biểu tham dự Hội nghị tại các điểm cầu.
Tại điểm cầu Trung ương, Phòng họp Diên Hồng, Tòa nhà Quốc hội, đại diện lãnh đạo Bộ Dân tộc và Tôn giáo tham dự Hội nghị có đồng chí Nguyễn Đình Khang, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
Tại trụ sở Bộ Dân tộc và Tôn giáo (349 Đội Cấn, Hà Nội), Hội nghị được kết nối tại hai điểm cầu với sự tham dự của đảng viên thuộc các tổ chức đảng trực thuộc Đảng bộ Bộ. Đảng viên Vụ Tuyên truyền công tác dân tộc, tôn giáo bộ phận Đắk Lắk, Cần Thơ; đảng viên Ban Tôn giáo Chính phủ bộ phận Thành phố Hồ Chí Minh dự hội nghị trực tuyến tiếp sóng của Đài Truyền hình Việt Nam tại trụ sở của đơn vị.
Mở đầu Hội nghị, thay mặt Đảng ủy Chính phủ, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, nhằm thống nhất nhận thức và định hướng tổ chức thực hiện trong toàn hệ thống chính trị. Theo đó, Nghị quyết đã xác định 6 quan điểm chỉ đạo trong phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Từ đó có 6 chuyển đổi lớn về tư duy, trọng tâm là chuyển từ tư duy thu hút đầu tư nước ngoài sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Tại Hội nghị, đại diện lãnh đạo các địa phương và đại diện các doanh nghiệp đã trình bày nhiều tham luận về những khía cạnh liên quan.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao sự chuẩn bị công phu của các cơ quan trong quá trình xây dựng Nghị quyết số 10-NQ/TW; ghi nhận những ý kiến tâm huyết, trách nhiệm tại hội nghị.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, Nghị quyết số 10-NQ/TW được ban hành trên cơ sở tổng kết gần 40 năm thực hiện chủ trương mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng. Nghị quyết thể hiện sự thay đổi trong tư duy phát triển. Chúng ta không đặt câu hỏi làm thế nào để có thêm vốn nước ngoài nữa, thay vào đó phải trả lời câu hỏi: Làm thế nào sử dụng hiệu quả nguồn lực nước ngoài để nâng cao nội lực, năng lực công nghệ, sức cạnh tranh và sự tự chủ của nền kinh tế.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định, Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt ra những mục tiêu và yêu cầu cao hơn: Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải gắn với nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, năng lực sản xuất, công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và khả năng tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao.
Để đạt được những mục tiêu đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu phải nhận thức sâu sắc toàn bộ nội dung Nghị quyết số 10-NQ/TW để hành động quyết liệt hơn, nhanh hơn và thực chất hơn. Chủ động tiếp cận, lựa chọn, dẫn dắt và sử dụng hiệu quả các dòng vốn quốc tế để bồi đắp năng lực quốc gia. Việc triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW phải gắn chặt với thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, nhất là Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước. Cả 3 khu vực kinh tế không phát triển rời rạc mà phải hợp tác và cùng cộng hưởng trong một chiến lược chung.
Các cấp, các ngành, địa phương thống nhất nhận thức: Đổi mới mạnh mẽ tư duy về đầu tư nước ngoài. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư có năng lực, công nghệ, trách nhiệm và cam kết đầu tư lâu dài, kinh doanh thành công tại Việt Nam; đồng thời sàng lọc chặt chẽ, không tiếp nhận các dự án công nghệ lạc hậu, sử dụng đất kém hiệu quả, có nguy cơ gây ô nhiễm… Các bộ, ngành rà soát, đồng bộ hóa các quy định liên quan đến đầu tư, kinh doanh và thị trường; kiên quyết xử lý tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thủ tục rườm rà và cách hiểu không thống nhất giữa các cơ quan, địa phương; không để nhà đầu tư mất quá nhiều thời gian và chi phí để triển khai một dự án hợp pháp.
Bỏ tư duy ưu đãi đầu vào, thay bằng hỗ trợ dựa trên kết quả đầu ra, gắn với mức độ thực hiện cam kết. Những dự án có công nghệ tiên tiến, đầu tư nghiên cứu phát triển, đóng góp cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đào tạo lao động Việt Nam, sử dụng nhà cung ứng trong nước, chuyển giao công nghệ, tiết kiệm đất đai, năng lượng và giảm phát thải phải được hỗ trợ tương xứng. Ngược lại, các dự án vi phạm pháp luật hoặc không thực hiện đúng cam kết phải bị xử lý nghiêm.
Mỗi bộ, ngành phải có chương trình hành động cụ thể, rõ việc, rõ thời hạn, rõ trách nhiệm. Mỗi địa phương xây dựng chiến lược thu hút đầu tư phù hợp quy hoạch, lợi thế, điều kiện phát triển và khả năng liên kết vùng. Trung ương định hướng chiến lược, hoàn thiện thể chế, điều phối liên vùng, sàng lọc dự án lớn và giám sát thực hiện. Địa phương phải chủ động, sáng tạo, nhưng không được cạnh tranh bằng cách phá vỡ quy hoạch, hạ thấp tiêu chuẩn hoặc đánh đổi lợi ích lâu dài.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng các tập đoàn lớn đầu tư tại Việt Nam phải đồng hành phát triển công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nhà cung ứng, chia sẻ tiêu chuẩn, chuyển giao tri thức và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Các ngành, các địa phương chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chủ động liên kết với các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu, doanh nghiệp để đào tạo theo nhu cầu của ngành, cụm liên kết và các dự án chiến lược; tạo điều kiện để người Việt Nam từng bước đảm nhận các vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế và vận hành chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp FDI.
Nghị quyết số 10-NQ/TW không chỉ đặt vấn đề về vốn đầu tư nước ngoài mà còn yêu cầu phát triển thị trường vốn, nâng hạng thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư, trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do. Vì vậy, cần phát triển thị trường vốn hiện đại để thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp dài hạn, ổn định và có trách nhiệm. Cùng đó, phải đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng chiến lược và hạ tầng phục vụ nền kinh tế mới vì đó nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia. Đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư; không tiếp cận tràn lan mà gặp gỡ có mục tiêu, chuẩn bị kỹ khi làm việc với từng tập đoàn hoặc một nhóm tập đoàn, quỹ đầu tư, đối tác chiến lược…
Quán triệt tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW là thu hút đầu tư nước ngoài không phải để thay thế nội lực mà để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ, không chỉ để tăng trưởng nhanh mà để phát triển bền vững, bao trùm và có chất lượng cao, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị toàn hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước phát huy cao nhất tinh thần trách nhiệm, đổi mới, sáng tạo, quyết tâm đưa nghị quyết vào cuộc sống, biến chủ trương đúng đắn thành những dự án tốt, doanh nghiệp mạnh, chuỗi giá trị mới, việc làm chất lượng cao và năng lực mới cho đất nước.
Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Dân tộc và Tôn giáo chỉ đạo sau Hội nghị, các tổ chức đảng trực thuộc tiếp tục tổ chức nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết đến toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động; bảo đảm đưa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết 10-NQ/TW sớm đi vào thực tiễn công tác. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng những nội dung cơ bản của Nghị quyết, góp phần nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất trong cán bộ, đảng viên và người lao động về chủ trương phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn mới./.