Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Kỹ thuật “Thổ canh hốc đá” trên Cao nguyên đá Đồng Văn

Trần Dũng - 18:02, 05/06/2026

(DTTG) - Từ bao đời nay, để sản xuất nông nghiệp trong điều kiện khan hiếm cả đất và nước, người Mông, Lô Lô, Cờ Lao, Pu Péo... đã phải tận dụng từng hốc đá để canh tác. Từ đó, kĩ thuật “thổ canh hốc đá” độc đáo của đồng bào được hình thành và duy trì qua nhiều thế hệ.

Phương thức sản xuất này góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giúp đồng bào ổn định cuộc sống trên mảnh đất biên cương nơi địa đầu Tổ quốc
Kỹ thuật thổ canh hốc đá góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giúp đồng bào ổn định cuộc sống trên mảnh đất biên cương nơi địa đầu Tổ quốc

Cao nguyên đá Đồng Văn nằm ở phía Bắc tỉnh Tuyên Quang. Đây là vùng núi đá vôi, ít sông suối, thường xuyên thiếu nước sinh hoạt, thiếu đất canh tác. Trên Cao nguyên đá có 17 dân tộc cùng sinh sống, đông nhất là người Mông. Để thích nghi với điều kiện sản xuất khắc nghiệt, đồng bào các dân tộc đã sáng tạo nên kỹ thuật "thổ canh hốc đá". Những hốc đá tự nhiên được bà con gùi đất đổ vào trở thành hốc canh tác. Đến nay, "thổ canh hốc đá" vẫn là phương thức chủ đạo trong hoạt động sản xuất của đồng bào trên vùng Cao nguyên đá.

Những nông cụ đặc biệt

Trong "thổ canh hốc đá", đồng bào sử dụng các nông cụ thích hợp với điều kiện canh tác, như: cày, bừa, cuốc bướm. Cày trên nương đá phải là loại do người Mông chế tác. Thân cày chắc khỏe, lưỡi cày có hình tam giác cân, nhỏ, dầy, mũi hơi tù và nặng, chịu được lực khi va đập vào đá. Bừa có hai loại: bừa tay và bừa chân. Bừa tay có tay ngang để người sử dụng cầm, ấn xuống khi bừa. Bừa chân được dùng thông dụng hơn, thường có dạng hình chữ nhật, cấu tạo chắc chắn, với hai hàng răng, không có tay giữ; khi bừa, người điều khiển phải đứng lên bừa. Nơi đất khô cứng, người bừa phải xếp thêm đá lên thân bừa để tạo sức nặng giúp bừa sâu hơn, làm cho tơi đất. Cuốc bướm có lưỡi mỏng, to bản, hình tam giác, cong ở phần chuôi, nhọn hai đầu, thuận lợi cho việc cào, vơ cỏ, vun gốc trên nương đá.

Quy trình sản xuất nhiều bước

Khai phá nương là công việc đầu tiên và tốn nhiều công sức, thời gian, thường được làm vào mùa khô. Khi muốn tạo một mảnh nương mới, đồng bào chọn khu vực có nhiều ánh nắng, đất không quá dốc, tốt nhất là khu vực có nhiều cây mọc. Sau đó, phát cỏ và cây bụi từ dưới lên. Cây phát xong để phơi nắng khoảng 2-3 tuần, rồi đốt. Tiếp theo, họ nhặt đá xếp thành bờ ở sườn phía dưới của nương để giữ cho nương không bị sạt lở, xói mòn và rửa trôi màu. Những chỗ nhiều đá không thể san bằng được, đồng bào thường kè thành những hốc đá kín, sau đó gùi thêm đất đổ vào đó, mỗi hốc chỉ trồng được 1 - 2 cây ngô.

Việc làm đất thường diễn ra sau dịp tết của đồng bào. Đối với những nương đã được khai phá và canh tác nhiều vụ, công việc đầu tiên là dọn những phiến đá lộ ra trong quá trình canh tác từ vụ trước, rồi xếp lại và tu sửa những đoạn bờ kè bị xói lở. Sau đó, đồng bào sử dụng cuốc bướm và dao phát dọn sạch cỏ, phơi khô và đốt. Tro được rải đều ra khắp mặt nương để làm nguồn phân bón.

Đối với những mảnh nương nhiều đá thì tro được cho vào quẩy tấu/gùi mang đi rải đều vào những chỗ có đất canh tác. Với những mảnh nương rộng và ít đá, đồng bào tiến hành cày bừa cho đất tơi xốp. Công việc này thường do người đàn ông đảm nhiệm. Sức kéo chính được sử dụng là bò, vì bò sau khi được huấn luyện, nếu gặp phải đá hộc khi cày, chúng biết dừng lại để người cày lách cày ra khỏi tảng đá, tránh làm gãy lưỡi cày.

Đất cày vỡ xong, gốc ngô cũ, cây cỏ được dọn sạch. Đối với nương nhiều đá và những hốc đá không thể cày, họ dùng cuốc bướm để cuốc tơi đất, dọn sạch cỏ, gùi đất bổ sung vào hốc đá đất bị trôi nhiều và kè lại cho kín.

Sau khi làm đất, bà con dùng phân chuồng đã được ủ kĩ bón cho đất. Ngô giống được ngâm nước khoảng 2 - 3 ngày để khi trồng, hạt giống nhanh nảy mầm, tránh sự phá hoại của sâu bọ, chuột khi bị vùi lâu dưới mặt đất.

Tri thức và kĩ thuật thổ canh hốc đá trên cao nguyên đá Đồng Văn thể hiện tinh thần sáng tạo, vượt khó và thích nghi với môi trường sống khắc nghiệt của cư dân
Kĩ thuật thổ canh hốc đá trên cao nguyên đá Đồng Văn thể hiện tinh thần sáng tạo, vượt khó và thích nghi với môi trường sống khắc nghiệt của cư dân

Khi tra hạt, người Mông kiêng tra vào ngày con rắn và con rồng, vì với họ, đây là những ngày xấu, nếu tra hạt vào ngày này, năng suất sẽ không cao. Thông thường, công đoạn tra hạt được làm theo nhóm 4 người: người đi đầu cuốc hốc, người tiếp theo tra hạt, người đi sau bỏ phân và người cuối cùng lấp đất. Công việc cuốc hốc tốn nhiều công sức hơn nên nam giới thường đảm nhiệm. Những công đoạn sau thường dành cho phụ nữ, người già và trẻ con.

Sau khi tra hạt xong ở nương thấp, đồng bào bắt đầu tra hạt trên những hốc đá. Sau 20 - 25 ngày, cây ngô mọc cao khoảng 20cm, họ bắt đầu tỉa bớt, chỉ để 2 đến 3 cây, hốc nào không mọc đủ thì nhổ ở những hốc mọc nhiều dặm vào.

Cây ngô mọc được 2, 3 lá thì tiến hành làm cỏ và vun gốc lần đầu; cao chừng 1m là lúc chuẩn bị trổ hoa thụ phấn thì tiến hành làm cỏ, bổ sung phân bón và vun gốc lần 2. Đây cũng là lần vun gốc cuối cùng. Đối với cây ngô trồng trong những hốc đá, nếu thấy cỏ mọc nhiều thì có thể thêm một lần phát cỏ nữa.

Do nguồn đất khan hiếm nên đồng bào áp dụng phương pháp xen canh trong gieo trồng. Ngô thường được trồng xen với rau dền, dưa chuột, bí, rau cải bằng cách trộn lẫn hạt giống của những loại cây này với phân ải để bón vào từng hốc ngô, khi ngô nảy mầm, các loại rau này cũng mọc theo. Sau một, hai tháng, ngô được vun gốc và làm cỏ cũng là lúc bắt đầu thu hái nguồn rau về ăn.

Phương thức xen canh, gối vụ được đúc kết qua nhiều thế hệ, trở thành tập quán được các dân tộc chia sẻ và học hỏi nhau nhằm có rau ăn, tạo ra nhiều nguồn hoa màu trên cùng một mảnh đất, trong cùng một quỹ thời gian; giúp duy trì lớp thực vật phủ lên mặt đất, hạn chế sự xói mòn và rửa trôi đất.

Mùa thu hoạch thường diễn ra vào tháng 6, 7, có khi kéo dài đến tháng 8, 9 Âm lịch, tùy vào từng loại cây trồng. Trước tiên, bà con thu hoạch các loại đậu, bí, rồi mới thu hoạch ngô. Đồng bào thường chọn ngô giống ngay tại nương, thu hoạch riêng, đem về treo trên gác bếp. Sau đó, các gia đình dàn hàng ngang, đi từ chân nương ngô lên tới đỉnh, dùng tay bẻ bắp cho vào quẩy tấu, đem về bóc bớt vỏ, phơi 3 - 4 nắng rồi phân loại và xếp trên gác. Loại tốt dùng để ăn và nấu rượu ngô, loại xấu cho gia súc, gia cầm.

Sau khi thu hoạch ngô, đồng bào tận dụng đất để trồng thêm một số loại cây lương thực, hoa màu khác, như: tam giác mạch, đậu tương, đậu Hà Lan, đậu răng ngựa, dong riềng,… Riêng đồng bào Mông còn trồng lanh để dệt vải may trang phục.

Tri thức và kĩ thuật "thổ canh hốc đá" của người Mông và một số dân tộc thiểu số khác sống trên Cao nguyên đá Đồng Văn thể hiện tinh thần sáng tạo, vượt khó và thích nghi với môi trường sống khắc nghiệt của cư dân. Phương thức sản xuất này góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giúp đồng bào ổn định cuộc sống trên mảnh đất biên cương nơi địa đầu Tổ quốc.