Nghề rèn thủ công của người Mông ở miền Tây Xứ Nghệ không chỉ là sinh kế mà còn là hồn cốt văn hóa vùng cao (Ảnh minh họa).Miền Tây xứ Nghệ, nơi biên viễn xa xôi của Tổ quốc là địa bàn cư trú lâu đời của đồng bào dân tộc Mông. Giữa thiên nhiên hùng vĩ và khắc nghiệt, người Mông đã kiến tạo nên một nền văn hóa độc đáo, thích ứng mạnh mẽ với địa hình núi đá. Nghề rèn của người Mông ở các xã vùng cao như Tân Kỳ, Tương Dương, Quế Phong mang những đặc trưng rất riêng, không thể trộn lẫn với bất kỳ làng nghề rèn nào ở miền xuôi. Người Mông dựng lò rèn ngay hiên nhà hoặc bên vách nứa bằng đất sét dẻo trộn rơm. Than dùng để nhóm lò phải là than củi từ các loại cây gỗ chắc trên rừng già nhằm giữ nhiệt lượng đượm và lâu. Chiếc bễ thổi hơi được đục đẽo công phu từ một thân cây gỗ rỗng ruột, sử dụng pít-tông quấn bằng lông gà để đẩy hơi vào bếp.
Sản phẩm của lò rèn người Mông vô cùng phong phú, từ con dao đi rừng mỏng dính nhưng chặt tre, chém đá không sứt mẻ, chiếc rìu đốn củi bập sâu vào thớ gỗ cứng, cho đến lưỡi cày bám chặt vào đá sỏi để lật lên những luống đất trồng ngô trên sườn dốc đứng. Bí quyết làm nên danh tiếng của nông cụ người Mông nằm ở kỹ thuật chọn phôi thép và đặc biệt là nghệ thuật “tôi thép” bằng nước hoặc dầu. Bằng mắt thường và kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ, người thợ rèn nhận biết độ chín của dải thép qua sắc đỏ của lửa để nhúng vào nước đúng khoảnh khắc. Nhờ vậy, dao người Mông làm ra có độ sắc bén lạ kỳ, dẻo dai mà cứng cáp, dùng bao năm cũng không bị mẻ hay sứt quăn.
Một số vật dụng như bàn đe, đập và lò rèn thủ công đều được truyền từ thế hệ trước và được các người thợ sửa đổi, bổ sung thêm để phù hợp với cách làm hiện nay. Đối với người Mông miền Tây Nghệ An, tiếng búa quai chan chát, tiếng lửa reo phừng phực bên bếp than hồng không chỉ đơn thuần là âm thanh của lao động sản xuất, mà còn là biểu tượng của một gia đình đầm ấm, một bản làng hưng thịnh. Một người đàn ông Mông trưởng thành biết rèn ra những nông cụ sắc bén luôn nhận được sự kính trọng của cộng đồng. Con dao nhọn dắt lưng theo họ đi phát hoang, mở lối, làm nhà và cũng chính là kỷ vật định tình trao duyên của những đôi lứa yêu nhau trong đêm hội mùa xuân. Nghề rèn vì thế đã ăn sâu vào tâm thức, trở thành một bộ phận mang tính đại diện cho văn hóa Mông.
Tuy nhiên, trước làn sóng hiện đại hóa và kinh tế thị trường, nghề rèn truyền thống này đang đứng trước những thử thách sống còn. Các loại nông cụ, dao kéo công nghiệp sản xuất hàng loạt từ miền xuôi tràn lên các phiên chợ vùng cao với mẫu mã bắt mắt và giá thành rẻ, đẩy sản phẩm thủ công vào thế cạnh tranh gay gắt. Đáng lo ngại hơn, thế hệ trẻ người Mông ngày nay có xu hướng rời bản làng xuống các khu công nghiệp dưới xuôi tìm kiếm việc làm, số người mặn mà ngồi bên bễ thổi để học nghề ngày càng thưa thớt. Nhiều lò rèn nổi tiếng một thời tại các bản làng Mường Lống, Huồi Tụ (xã Tân Kỳ) hay Tri Lễ (xã Quế Phong) nay đã tắt lửa, đẩy nghề rèn truyền thống đứng trước nguy cơ mai một.
Để ngọn lửa trong các lò rèn vùng cao không bị lụi tàn, công tác bảo tồn và phát huy giá trị nghề rèn của đồng bào Mông miền Tây Nghệ An cần những giải pháp mang tính chiến lược và đồng bộ. Trước hết, chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý văn hóa cần có chính sách hỗ trợ kinh tế, tôn vinh các nghệ nhân lão thành để họ có động lực gìn giữ và truyền nghề cho con cháu.
Một hướng đi triển vọng và bền vững là gắn bảo tồn làng nghề với phát triển du lịch cộng đồng. Khi du khách đến với miền Tây Nghệ An, họ không chỉ muốn ngắm hoa mận, hoa đào mà còn khao khát được trải nghiệm văn hóa địa phương. Việc tổ chức các tour du lịch trải nghiệm cho du khách tận mắt chứng kiến quá trình quai búa, đỏ lửa của các nghệ nhân và mua sản phẩm rèn làm quà lưu niệm sẽ mở ra nguồn thu nhập mới cho đồng bào. Bản thân người thợ Mông cũng cần chủ động đa dạng hóa mẫu mã, kết hợp kỹ thuật truyền thống với một số công cụ bổ trợ hiện đại để nâng cao năng suất, nhưng vẫn giữ nguyên cốt cách và chất lượng độc đáo của sản phẩm.
Bảo tồn nghề rèn của đồng bào Mông ở miền Tây Nghệ An không chỉ là giữ gìn một phương thức sản xuất cổ xưa, mà chính là bảo tồn ngọn lửa tâm hồn, ý chí vượt khó của một tộc người gắn liền với đá xám núi rừng. Tiếng búa vang vọng giữa sương mù miền biên viễn mãi mãi là âm thanh ca ngợi sức lao động sáng tạo, một nét đẹp văn hóa đậm đà bản sắc cần được trân trọng và lưu truyền cho các thế hệ mai sau./.