Ông Kinh Văn Cần (xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa) tỉ mỉ chạm khắc từng chi tiết trên sản phẩm, đòi hỏi sự khéo léo và kiên nhẫn của người thợDuyên nợ với nghề
Năm 1972, ông Kinh Văn Cần từ Bắc Bình, tỉnh Lâm Đồng, về Bàu Trúc lập gia đình với bà Đàng Thị Mỹ Trâm. Khi ấy, nghề chạm bạc đã có trong gia đình bà Trâm, được cha bà truyền lại. Theo tập quán mẫu hệ của người Chăm, nghề truyền thống trong gia đình thường được trao cho con gái; bởi vậy, bà Trâm là người tiếp nhận nghề từ cha.
Ban đầu, ông Cần chưa xác định sẽ theo nghề. Nhưng từ những công việc nhỏ trong gia đình, ông dần được vợ chỉ dẫn, làm rồi sửa, học từng thao tác, từng kỹ thuật. Sự kiên trì khiến một công việc ban đầu còn xa lạ trở thành nghề gắn bó với ông suốt hơn 50 năm.
Ông Cần nhớ lại, chính lời động viên của vợ đã giúp ông quyết tâm theo nghề. Khi đã thành thạo, ông không chỉ cùng vợ làm sản phẩm mà còn chủ động học hỏi, tìm cách duy trì nghề trong điều kiện cuộc sống thay đổi.
Nghề chạm bạc không đòi hỏi những công cụ cầu kỳ, nhưng cần sự khéo léo, kiên nhẫn và am hiểu từng chi tiết. Từ kim loại, người thợ tạo nên những sản phẩm phục vụ đời sống và nghi lễ của cộng đồng. vì vậy, lỗi đường chạm, nét gò không chỉ thể hiện kỹ thuật, đồng thời còn mang theo những dấu ấn văn hóa được lưu giữ qua nhiều thế hệ.
Gia đình ông Kinh Văn Cần và bà Đàng Thị Mỹ Trâm (xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa) là nơi duy nhất ở Bàu Trúc hiện còn lưu giữ và thực hành nghề chạm bạc thủ công truyền thốngGiữ nghề chạm bạc là giữ một phần đời sống tâm linh
Trong căn nhà của vợ chồng ông Cần, tiếng đục, tiếng gõ kim loại từng là âm thanh quen thuộc suốt nhiều năm. Công việc ấy đã giúp ông bà nuôi 9 người con trưởng thành. Nhưng với họ, giá trị lớn hơn của nghề nằm ở chỗ từ đôi bàn tay của mình, một nghề truyền thống vẫn có thể tiếp tục hiện diện trong đời sống cộng đồng.
Mỗi mùa Ka-tê đến gần, công việc lại bận rộn hơn. Người dân tìm đến đặt các vật dụng phục vụ nghi lễ như khay trầu, hộp đựng trầu, cặp chế nhổ trầu, mâm... Không chỉ khách hàng trong tỉnh, nhiều người ở các tỉnh như: Lâm Đồng, Đồng Nai, Tây Ninh, TP. Hồ Chí Minh cũng tìm đến gia đình ông bà.
Những sản phẩm ấy có thể không lớn về giá trị vật chất, nhưng lại có ý nghĩa đối với đời sống văn hóa Chăm. Bởi vậy, với người thợ, làm nghề không chỉ là hoàn thành một đơn hàng mà còn là giữ đúng hình dáng, công năng và những đặc trưng vốn có của sản phẩm dùng trong nghi lễ.
Tuổi cao khiến bà Trâm không còn đủ sức làm nghề như trước. Song người phụ nữ từng được cha truyền nghề năm nào vẫn tiếp tục một công việc quan trọng khác: truyền nghề cho con. Hai người con gái được vợ chồng ông bà trực tiếp hướng dẫn, để nghề không bị đứt quãng khi thế hệ trước dần lui về phía sau.
Ông Cần cũng hướng dẫn nghề cho khoảng 10 thanh niên trong làng. Với ông, truyền nghề không nhất thiết bắt đầu bằng những bài học lớn lao; người trẻ có thể học từ những việc cụ thể, làm từng công đoạn, quan sát người đi trước rồi tự hoàn thiện kỹ năng.
“Còn nghề thì phải có người biết làm. Người Chăm còn nghi lễ, còn phong tục truyền thống thì những sản phẩm này vẫn còn cần đến”, ông Cần chia sẻ.
Đó cũng là cách ông bà đã giữ nghề trong suốt những năm tháng qua: không giữ nghề như một ký ức cất trong nhà, mà giữ bằng việc làm, bằng người kế tiếp và bằng chính nhu cầu văn hóa của cộng đồng.
Vũ điệu ChămTheo thời gian, nghề chạm bạc ở Bàu Trúc cũng có những thay đổi. Vật liệu không còn hoàn toàn là bạc ròng mà có thể sử dụng đồng, nhôm; sản phẩm được điều chỉnh để phù hợp hơn với điều kiện thực tế. Dẫu vậy, những kiểu dáng và vật dụng gắn với nghi lễ Chăm vẫn được gia đình ông Cần cố gắng duy trì.
Hơn 50 năm trước, ông Cần học nghề từ vợ. Nay ông lại trở thành người hướng dẫn cho con gái và những thanh niên trong làng. Còn bà Trâm, từ người được cha truyền nghề, tiếp tục trao lại nghề cho con cháu. Một mạch truyền nghề cứ thế nối dài qua các thế hệ. “Còn nghề thì con cháu còn biết ông bà ngày trước đã làm gì, đã sống như thế nào”, bà Trâm nói.
Giữa làng gốm Bàu Trúc, gia đình ông Kinh Văn Cần và bà Đàng Thị Mỹ Trâm vẫn lặng lẽ giữ lửa cho nghề chạm bạc thủ công. Hòa cùng nhịp sống hiện đại, những tiếng đục vang lên không chỉ báo hiệu một công việc đang được tiếp tục, đặc biệt còn nhắc về một phần ký ức văn hóa của cộng đồng Chăm - nơi nghề thủ công và đời sống nghi lễ vẫn tìm thấy sự gắn kết qua đôi bàn tay của những người gìn giữ./.