Tinh gọn mạng lưới trường lớp, nâng cao hiệu quả đầu tư và chất lượng giáo dụcSau khi hợp nhất hai tỉnh Lào Cai và tỉnh Yên Bái (lấy tên tỉnh Lào Cai), không gian phát triển của tỉnh mở rộng, đồng thời những yêu cầu đối với giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi cũng trở nên đa dạng hơn. Toàn tỉnh hiện có 30 dân tộc, với hơn 60% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số; mạng lưới giáo dục phải đáp ứng nhu cầu học tập của hơn 470.000 trẻ em, học sinh, học viên.
Trong điều kiện địa hình chia cắt, dân cư phân tán, khoảng cách từ thôn bản đến trường học lớn, việc duy trì mạng lưới giáo dục đã là một thách thức. Vì vậy, đầu tư cho giáo dục vùng cao, miền núi trước hết là đầu tư để không một học sinh nào bị giới hạn cơ hội học tập bởi nơi mình sinh ra.
Những điểm nghẽn cần tháo gỡ
Tỉnh Lào Cai đã đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng khoảng cách về điều kiện giáo dục giữa các khu vực vẫn là vấn đề cần giải quyết. Ở vùng sâu, vùng xa, cơ sở vật chất tại một số trường chưa đồng bộ; phòng học chức năng, thiết bị công nghệ và điều kiện tổ chức các hoạt động giáo dục còn thiếu. Địa hình phức tạp khiến chi phí đầu tư, xây dựng và duy tu cao hơn đáng kể so với khu vực thuận lợi.
Trong khi đó, đội ngũ nhà giáo cũng là một điểm nghẽn. Việc thiếu giáo viên ở một số môn học, nhất là Tin học, Ngoại ngữ, Nghệ thuật,… cùng yêu cầu triển khai các môn tích hợp theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, đặt ra áp lực lớn đối với công tác tuyển dụng và bồi dưỡng. Trong khi đó, năng lực ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và phương pháp dạy học mới giữa các cơ sở giáo dục chưa đồng đều.
Đặc biệt, yêu cầu đổi mới giáo dục (theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo) đang diễn ra đồng thời với quá trình chuyển đổi số. Nếu hạ tầng số chưa đủ mạnh, giáo viên chưa được đào tạo thường xuyên và học sinh vùng cao, miền núi thiếu thiết bị tiếp cận, chuyển đổi số có thể tạo thêm khoảng cách thay vì thu hẹp khoảng cách.
Chính vì vậy, bài toán không chỉ là có trường, có lớp, mà là làm thế nào để chất lượng giáo dục ở những nơi khó khăn không bị tụt lại.
Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và THCS Mường Khương (tỉnh Lào Cai) khang trang, hiện đạiTừ đầu tư dàn trải đến đầu tư có trọng tâm
Một trong những kinh nghiệm đặc biệt cần quan tâm của tỉnh Lào Cai là sắp xếp lại mạng lưới trường lớp. Với nguồn lực đầu tư gần 1.000 tỷ đồng, tỉnh đã đưa nhiều điểm trường lẻ về điểm trường chính, hợp nhất những trường có quy mô quá nhỏ; qua đó giảm 128 trường và gần 500 điểm trường lẻ. Việc tập trung nguồn lực giúp điều kiện cơ sở vật chất tại các điểm trường được cải thiện, đồng thời tạo môi trường học tập và giao lưu tốt hơn cho học sinh.
Đây là cách làm cho thấy một nguyên tắc quan trọng, đó là trong điều kiện nguồn lực có hạn, đầu tư giáo dục cần đi cùng quy hoạch mạng lưới. Không thể chia nhỏ nguồn lực đến mức nơi nào cũng có một ít nhưng không nơi nào đủ điều kiện để tạo chuyển biến căn bản.
Tuy nhiên, sắp xếp trường lớp phải được thực hiện trên cơ sở đặc điểm địa hình, dân cư và nhu cầu thực tế. Với những địa bàn quá xa trung tâm, trường bán trú, nội trú và các chính sách hỗ trợ ăn ở vẫn là giải pháp thiết yếu để duy trì sĩ số và bảo đảm quyền học tập.
Hiện tỉnh Lào Cai có 17 trường phổ thông dân tộc nội trú, 175 trường phổ thông dân tộc bán trú và 147 trường có học sinh bán trú; gần 65.000 học sinh đang hưởng chính sách hỗ trợ.
Tỉnh Lào Cai sắp xếp bộ máy mạng lưới trường lớp theo hướng tinh gọnSáp nhập, sắp xếp lại các trường
Căn cứ vào Văn bản số 777/TTg-TCCV ngày 10/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp công lập cấp tỉnh, cấp xã, trên cơ sở đó ngày 15/8/2026, UBND tỉnh Lào Cai đã ban hành Quyết định số 2855/QĐ-UBND phê duyệt Phương án tổng thể thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên công lập trên địa bàn tỉnh.
Theo phương án, tại thời điểm ngày 1/7/2025, toàn tỉnh Lào Cai có 1.010 cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên công lập. Trong đó có 343 trường mầm non, 219 trường tiểu học, 183 trường TH&THCS, 181 trường THCS, 14 trường THCS&THPT, 52 trường THPT và 18 Trung tâm GDNN-GDTX.
Sau khi sắp xếp, sáp nhập, toàn tỉnh còn 473 trường, giảm 537 trường, tương đương 53,2% và xóa 243 điểm trường lẻ trên toàn tỉnh. Cụ thể, còn 132 trường mầm non, 77 trường tiểu học, 59 trường THCS, 114 trường TH&THCS, 32 trường THCS&THPT, 43 trường THPT và 16 Trung tâm GDNN-GDTX.
Đối với các trường mầm non, tiểu học và THCS, việc sắp xếp được thực hiện trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp xã. Mục tiêu là mỗi đơn vị hành chính cấp xã có ít nhất một cơ sở giáo dục mầm non và một cơ sở giáo dục phổ thông cung cấp đủ cấp tiểu học, THCS.
Tỉnh cũng thực hiện sáp nhập một số trường THPT có quy mô nhỏ với cấp THCS của trường trên cùng địa bàn xã, phường để thành lập trường THCS&THPT.
Theo phương án, Lào Cai thành lập các trường THCS&THPT Vĩnh Lạc, THCS&THPT Phong Dụ Hạ và THCS&THPT Khao Mang trên cơ sở tổ chức lại các trường TH&THCS Vĩnh Lạc, THCS Phong Dụ Hạ và PTDTBT THCS Khao Mang.
Bên cạnh đó, thành lập các trường THCS&THPT Mai Sơn, THCS&THPT Bản Hồ, THCS&THPT Hoàng Liên, THCS&THPT Sín Chéng, THCS&THPT Nghĩa Đô, THCS&THPT Bản Lầu, THCS&THPT Cao Sơn, THCS&THPT Dương Quỳ và THCS&THPT Khánh Yên trên cơ sở sáp nhập trường THPT với trường có cấp THCS trên cùng địa bàn.
Hai Trung tâm GDNN-GDTX cũng được sắp xếp. Trung tâm GDNN-GDTX Trạm Tấu được sáp nhập vào Trung tâm GDNN-GDTX Văn Chấn thành Trung tâm GDNN-GDTX Văn Chấn; Trung tâm GDNN-GDTX Si Ma Cai được sáp nhập vào Trung tâm GDNN-GDTX Bắc Hà thành Trung tâm GDNN-GDTX Bắc Hà.
Đồng thời, tỉnh Lào Cai thành lập mới một trường THPT dân tộc nội trú Bảo Hà. Đồng thời, sau khi có chủ trương đồng ý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thành lập các trường phổ thông dân tộc nội trú có cấp THPT trên cơ sở tổ chức lại trường phổ thông nội trú tiểu học và THCS tại các xã biên giới thành trường phổ thông dân tộc nội trú tiểu học, THCS và THPT.
Trong đó, một nội dung đặc biệt quan tâm khác là tỉnh Lào Cai dự kiến xóa 243 điểm trường lẻ, gồm 87 điểm trường mầm non và 156 điểm trường tiểu học, đưa học sinh về học tại trường chính.
Việc xóa điểm trường được thực hiện căn cứ điều kiện thực tế từng địa bàn, khoảng cách giữa các điểm trường và khả năng tổ chức học tập tại trường chính.
Đối với từng điểm trường, phương án xác định cụ thể việc bố trí học sinh, giáo viên và xử lý cơ sở vật chất sau sắp xếp. Một số điểm trường có cơ sở vật chất chưa bảo đảm hoặc nằm gần trường chính sẽ được chuyển học sinh và giáo viên về trường chính để bảo đảm điều kiện học tập tốt hơn.
Theo đó, cơ sở vật chất sau sắp xếp được bàn giao cho địa phương hoặc đơn vị liên quan quản lý, sử dụng theo quy định.
Giáo viên là yếu tố quyết định
Cơ sở vật chất tạo điều kiện, nhưng chất lượng giáo viên quyết định phần lớn chất lượng giáo dục. Vì vậy, chính sách đối với nhà giáo vùng cao cần chuyển mạnh từ hỗ trợ theo tình thế sang tạo động lực nghề nghiệp lâu dài.
Tỉnh Lào Cai đã triển khai nhiều cách làm như biệt phái giáo viên vùng thấp lên vùng cao, tạo điều kiện cho giáo viên công tác lâu năm ở vùng cao có nguyện vọng trở về vùng thấp; đồng thời chú trọng tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên.
Đặc biệt, việc tăng cường dạy học trực tuyến, kết nối giáo viên giữa các địa phương mở thêm khả năng khắc phục tình trạng thiếu giáo viên ở một số môn. Nhưng công nghệ chỉ là công cụ. Về lâu dài, cần xây dựng đội ngũ giáo viên tại chỗ, nhất là những giáo viên người dân tộc thiểu số am hiểu ngôn ngữ, văn hóa và tâm lý học sinh địa phương.
Đây cũng là cách để giáo dục không chỉ truyền đạt tri thức phổ thông mà còn trở thành không gian bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa.
Chính sách phải đi cùng từng nhóm đối tượng
Nguồn lực đầu tư cho giáo dục Lào Cai những năm qua rất đáng kể. Giai đoạn 2022-2025, tổng kinh phí phân bổ cho giáo dục từ ba chương trình mục tiêu quốc gia đạt hơn 3.104 tỷ đồng. Riêng năm học 2024-2025, hàng triệu lượt học sinh thuộc các nhóm chính sách được miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập; hơn 64.000 học sinh vùng đặc biệt khó khăn được hỗ trợ ăn, ở. Tỉnh cũng dành gần 300 tỷ đồng trong giai đoạn 2021-2025 cho các chính sách đặc thù về giáo dục.
Những con số ấy cho thấy, chính sách giáo dục đang giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì cơ hội học tập. Song, bước sang giai đoạn mới, chính sách cần được thiết kế sát hơn với những khoảng trống còn lại: trẻ mầm non ở địa bàn khó khăn, học sinh hộ cận nghèo, học sinh vùng biên giới, học sinh dân tộc thiểu số có năng lực học tập tốt nhưng thiếu điều kiện theo học đại học và sau đại học.
Do đó, hỗ trợ không chỉ giúp học sinh đi học, đồng thời phải giúp các em học tốt, học tiếp và có khả năng tìm được việc làm phù hợp sau đào tạo.
Giáo dục là chìa khóa để tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Đây có lẽ là bước chuyển quan trọng nhất của giáo dục vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là nâng tỷ lệ tốt nghiệp, mà phải hình thành nguồn nhân lực có khả năng tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển địa phương.
Vì vậy, Lào Cai cần tiếp tục mở rộng liên kết giữa giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; ưu tiên các lĩnh vực gắn với thế mạnh và nhu cầu thực tế như du lịch, nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin, kinh tế số, logistics, y tế, giáo dục và các ngành kỹ thuật.
Cùng với đó là cơ chế khuyến khích sinh viên sau tốt nghiệp trở về quê hương. Một kỹ sư trở về vùng cao, một giáo viên người dân tộc trở lại bản làng, một cán bộ công nghệ hỗ trợ hợp tác xã chuyển đổi số hay một hướng dẫn viên du lịch am hiểu văn hóa địa phương đều có thể trở thành hạt nhân tạo thay đổi.
Đó chính là cách biến đầu tư giáo dục thành nguồn lực phát triển.
Lào Cai cần tiếp tục mở rộng liên kết giữa giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại họcMở rộng cơ hội, thu hẹp khoảng cách
Đề án phát triển giáo dục và đào tạo Lào Cai giai đoạn 2026-2030 tiếp tục xác định giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là trọng tâm; tỉnh đang triển khai các mô hình trường học đặc thù, củng cố hệ thống nội trú, bán trú và từng bước nâng chất lượng phổ cập.
Trong giai đoạn tới, việc xây dựng các trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tại khu vực biên giới, tăng cường hạ tầng số, đào tạo giáo viên về công nghệ và trí tuệ nhân tạo, phát triển giáo dục song ngữ phù hợp, đồng thời bảo tồn văn hóa dân tộc trong nhà trường sẽ tạo thêm những trụ cột quan trọng.
Vì vậy, giáo dục vùng cao, miền núi cần được nhìn như một khoản đầu tư dài hạn cho tương lai. Mỗi lớp học được xây dựng, mỗi giáo viên được giữ chân, mỗi học sinh được hỗ trợ đến trường không chỉ tạo ra một kết quả giáo dục trước mắt, mà còn góp phần thay đổi năng lực phát triển của cả gia đình và cộng đồng.
Tỉnh Lào Cai đã có nền tảng chính sách, kinh nghiệm tổ chức mạng lưới và nguồn lực đáng kể. Thách thức phía trước là làm cho những nguồn lực ấy được phân bổ chính xác hơn, đến đúng nơi cần hơn và chuyển hóa thành chất lượng học tập thực chất hơn.
Khi một học sinh vùng cao có cơ hội tiếp cận tri thức, công nghệ và nghề nghiệp tương đương với học sinh ở vùng thuận lợi, khoảng cách phát triển mới thực sự được thu hẹp. Và khi những học sinh ấy có thể trở về đóng góp cho quê hương, giáo dục không chỉ mở cánh cửa tương lai cho mỗi cá nhân, mà còn trở thành động lực nội sinh cho sự phát triển bền vững của vùng dân tộc thiểu số và miền núi Lào Cai…/.