Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Nghị định 387/2026/NĐ-CP: Quy định cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035

Xuân Thương - Ngô Anh Thư - 13:03, 18/10/2026

(DTTG) - Nghị định số 387/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định đồng bộ nội dung, cơ chế và chính sách thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035. Việc thống nhất cơ chế quản lý, đẩy mạnh phân cấp và gắn đánh giá với kết quả thực hiện tạo cơ sở nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, hướng tới cải thiện đời sống Nhân dân.

Nghị định số 387/2026/NĐ-CP quy định nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035
Nghị định số 387/2026/NĐ-CP quy định nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035

Ngày 12/10/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 387/2026/NĐ-CP quy định nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035. Nghị định có hiệu lực kể từ ngày ban hành, cụ thể hóa chủ trương đầu tư Chương trình được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 46/2026/QH16 ngày 24/8/2026.

Thống nhất đầu mối, liên kết các lĩnh vực phát triển

Chương trình được xây dựng trên cơ sở hợp nhất 4 Chương trình Mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa; hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển.

Việc hợp nhất hướng tới tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển theo một khuôn khổ thống nhất, đồng thời tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương. Theo định hướng đã được Quốc hội thông qua, quá trình hợp nhất không làm thay đổi, thu hẹp mục tiêu, phạm vi, đối tượng thụ hưởng, quyền lợi và mức độ ưu tiên đã được quyết định đối với 4 chương trình trước đó.

Các nhóm nhiệm vụ trọng tâm bao gồm xây dựng nông thôn mới; thực hiện chuẩn nghèo đa chiều quốc gia; phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển; bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa.

Cách tiếp cận này tạo điều kiện gắn kết các mục tiêu phát triển kinh tế với tiến bộ xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và bảo tồn bản sắc văn hóa. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, việc triển khai đồng bộ các lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng trong thu hẹp khoảng cách phát triển, cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ cơ bản và tạo sinh kế bền vững cho người dân.

Hợp nhất 4 Chương trình Mục tiêu quốc gia: Đổi mới phương thức quản lý, tổ chức thực hiện giai đoạn 2026-2035
Hợp nhất 4 Chương trình Mục tiêu quốc gia: Đổi mới phương thức quản lý, tổ chức thực hiện giai đoạn 2026-2035

Chuyển trọng tâm từ đầu tư hạ tầng sang phát triển sinh kế

Trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mới, các nhiệm vụ không chỉ tập trung vào hoàn thiện kết cấu hạ tầng mà còn hướng tới phát triển sản xuất, tổ chức lại kinh tế nông thôn và nâng cao thu nhập cho người dân.

Các nội dung được xác định gồm phát triển nông nghiệp sinh thái, hiện đại, bền vững; thúc đẩy kinh tế tập thể, hợp tác xã; tăng cường liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị; phát triển sản phẩm OCOP, làng nghề, du lịch nông thôn và xúc tiến thương mại. Cùng với đó là đầu tư hạ tầng vùng nguyên liệu, cơ sở bảo quản, sơ chế, chế biến nông sản và hệ thống cung ứng, thu mua sản phẩm.

Đây là hướng tiếp cận gắn đầu tư công với năng lực sản xuất và khả năng tạo thu nhập tại chỗ. Thay vì chỉ hỗ trợ từng công trình hoặc từng mô hình riêng lẻ, các địa phương có cơ sở kết nối hạ tầng với tổ chức sản xuất, thị trường tiêu thụ và sự tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân.

Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, yêu cầu này càng có ý nghĩa thiết thực. Việc sử dụng nguồn lực cần gắn với điều kiện sản xuất, lợi thế địa phương, tập quán sinh hoạt và nhu cầu thực tế của cộng đồng; qua đó tạo điều kiện để người dân chủ động phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và từng bước thoát nghèo bền vững.

Đẩy mạnh phân cấp, tăng trách nhiệm của địa phương

Một nội dung đáng chú ý trong tổ chức thực hiện Chương trình là tăng cường phân cấp cho chính quyền địa phương, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Việc phân cấp cần gắn với xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, nguồn lực và năng lực tổ chức thực hiện của từng cấp.

Cùng với đó, Nghị định quy định cơ chế đặc thù đối với các dự án đầu tư xây dựng quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản, có sự tham gia của cộng đồng; đồng thời đề cập các hình thức hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, sản xuất cộng đồng, sản xuất theo nhiệm vụ và dự án đặc thù.

Các cơ chế này tạo cơ sở để địa phương chủ động lựa chọn phương thức triển khai phù hợp với điều kiện thực tế, phát huy vai trò của cộng đồng trong xác định nhu cầu, tổ chức thực hiện và giám sát công trình, dự án. Tuy nhiên, phân cấp chỉ phát huy hiệu quả khi đi đôi với trách nhiệm giải trình, kiểm tra, giám sát và bảo đảm nguồn lực thực hiện.

Về nguồn vốn, Chương trình được thực hiện từ ngân sách nhà nước, vốn tín dụng chính sách xã hội, nguồn đóng góp của doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức, cá nhân và các nguồn hợp pháp khác. Việc huy động, lồng ghép nguồn lực phải bảo đảm công khai, minh bạch, tránh bố trí hoặc quyết toán trùng kinh phí cho cùng một khoản chi.

Chương trình MTQG giai đoạn 2026-2035 gồm các nhóm nhiệm vụ về xây dựng nông thôn mới; thực hiện chuẩn nghèo đa chiều quốc gia; phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi
Chương trình MTQG giai đoạn 2026-2035 gồm các nhóm nhiệm vụ về xây dựng nông thôn mới; thực hiện chuẩn nghèo đa chiều quốc gia; phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi

Đánh giá theo kết quả, tăng cường giám sát và công khai

Nghị định đặt ra cơ chế đánh giá kết quả thực hiện Chương trình theo thang điểm 100. Trong đó, kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu chuyên ngành chiếm tối đa 60 điểm; tiến độ phân bổ và giải ngân nguồn lực chiếm tối đa 30 điểm; mức độ hài lòng của người dân chiếm tối đa 10 điểm.

Cơ cấu đánh giá này cho thấy yêu cầu không chỉ dừng ở việc hoàn thành thủ tục, phân bổ hoặc giải ngân vốn, mà còn chú trọng kết quả thực chất của từng lĩnh vực và sự thụ hưởng của người dân. Tiến độ giải ngân vẫn là tiêu chí quan trọng, song cần được đặt trong mối quan hệ với hiệu quả đầu tư, chất lượng công trình, tính bền vững của mô hình sản xuất và tác động đối với đời sống cộng đồng.

Bên cạnh đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung để theo dõi mục tiêu, nhiệm vụ, nguồn lực và kết quả thực hiện là một nội dung quan trọng. Khi thông tin được cập nhật, kết nối và khai thác hiệu quả, cơ quan quản lý có điều kiện theo dõi tiến độ, phát hiện những vướng mắc, nâng cao chất lượng giám sát và công khai thông tin về Chương trình.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường giữ vai trò chủ trì quản lý các nội dung xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và các nhiệm vụ chuyên ngành được giao; đồng thời phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai Chương trình.

Việc ban hành Nghị định số 387/2026/NĐ-CP đánh dấu bước cụ thể hóa cơ chế tổ chức thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035. Hiệu quả triển khai trong thời gian tới phụ thuộc đáng kể vào chất lượng phân cấp, khả năng phối hợp giữa các cơ quan, việc phân bổ nguồn lực theo nhu cầu và năng lực tổ chức thực hiện tại cơ sở. Quan trọng hơn, các mục tiêu, nhiệm vụ và nguồn vốn cần được chuyển hóa thành những kết quả cụ thể, có thể kiểm chứng trong đời sống, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi./.