Một buổi sinh hoạt của CLB văn hóa dân gian dân tộc Thổ xóm Đột Vả, xã Tam Hợp, tỉnh Nghệ AnCụ thể là Chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số và văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một; Chính sách bảo tồn và phát huy không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống gắn với phát triển du lịch; Chính sách phát huy vai trò chủ thể văn hóa tạo sinh kế bền vững. Trường hợp văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số được nhận diện, phân loại, kiểm kê, ghi danh hoặc công nhận là di sản văn hóa thì thực hiện theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa; trường hợp nội dung liên quan đến lĩnh vực chuyên ngành khác đã được quy định tại pháp luật có liên quan thì thực hiện theo quy định của pháp luật đó.
Nghị định quy định 5 nguyên tắc: (i) Bảo đảm tôn trọng tính xác thực, toàn vẹn và đặc trưng văn hóa truyền thống; không làm sai lệch giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số và phương thức thực hành cơ bản của cộng đồng trong các hoạt động phục hồi, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống. (2) Lấy cộng đồng các dân tộc thiểu số là chủ thể, trung tâm của hoạt động bảo tồn và phát triển; phát huy vai trò của chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận và khuyến khích sự tham gia của chủ thể văn hóa tiềm năng; bảo đảm sự tham gia thực chất và thụ hưởng của cộng đồng dân tộc thiểu số trong quá trình bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống. (3) Hoạt động bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số phải gắn với việc tạo sinh kế, phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. (4) Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và hiệu quả giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương; khuyến khích và huy động sự tham gia của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong việc phục hồi, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số. (5) Bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả trong quản lý, sử dụng nguồn lực và tổ chức thực hiện.
Nghị định đã nêu rõ các tiêu chí để xác định văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một khi: Có dưới 20 cá nhân sinh sống trong cộng đồng am hiểu, nắm giữ, thực hành và trao truyền văn hóa truyền thống; Có dưới 05 chủ thể văn hóa kế cận thường xuyên tham gia thực hành và tiếp nhận trao truyền văn hóa truyền thống; Hoạt động thực hành, trao truyền văn hóa truyền thống đã bị gián đoạn từ 03 năm đến dưới 05 năm liên tục hoặc bị gián đoạn từ 02 năm liên tục đối với dân tộc thiểu số có khó khăn đặc thù; Không gian, địa điểm thực hành văn hóa truyền thống bị thu hẹp, biến đổi làm ảnh hưởng đến việc duy trì hoạt động thực hành và trao truyền văn hóa truyền thống; Tri thức, kỹ năng, quy trình thực hành văn hóa truyền thống không còn được duy trì, thực hành thường xuyên trong cộng đồng; Cộng đồng cư trú trên địa bàn được thống kê có nguyện vọng bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc mình nhưng chưa có khả năng để duy trì thường xuyên hoạt động thực hành và trao truyền văn hóa truyền thống.
Nghị định quy định Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức rà soát, thống kê, đánh giá thực trạng các không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống cần bảo tồn trên địa bàn. Không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống được xác định cần bảo tồn khi đáp ứng 5 tiêu chí: Hình thức biểu hiện của không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống (nhà ở truyền thống, công trình kiến trúc truyền thống, trang phục, ẩm thực...) bị biến đổi, ảnh hưởng đến việc duy trì hoạt động thực hành và trao truyền văn hóa truyền thống; Có dưới 70% nghề thủ công truyền thống được duy trì hoạt động trong cộng đồng; Tri thức dân gian được thực hành hoặc trao truyền nhưng không thường xuyên, liên tục trong cộng đồng; Lễ hội truyền thống không được tổ chức thường xuyên, liên tục trong thời gian dưới 03 năm; Từ trên 30% đến dưới 50% hộ gia đình sinh sống trong cộng đồng đang duy trì thực hành theo phong tục tập quán truyền thống.
Đối với việc xác định chủ thể văn hóa nòng cốt và chủ thể văn hóa kế cận, Nghị định quy định Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức rà soát, thống kê, đánh giá, lập danh sách các cá nhân đáp ứng tiêu chí trên địa bàn.
Chủ thể văn hóa nòng cốt khi đáp ứng các tiêu chí: Có thời gian tham gia hoạt động thực hành và trao truyền văn hóa truyền thống từ 05 năm trở lên tính đến thời điểm được Ủy ban nhân dân cấp xã lập danh sách; Trong 03 năm gần nhất đã tham gia tối thiểu 03 hoạt động với tư cách là chủ thể văn hóa trực tiếp thực hành, trao truyền văn hóa truyền thống; Đã trực tiếp trao truyền văn hóa truyền thống cho tối thiểu 01 chủ thể văn hóa kế cận; Có ý thức trao truyền tri thức, kỹ năng và cam kết tiếp tục tham gia các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong cộng đồng, bao gồm hoạt động phục hồi văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một và không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống cần bảo tồn.
Chủ thể văn hóa kế cận phải đáp ứng các tiêu chí: Được nghệ nhân nhân dân hoặc nghệ nhân ưu tú hoặc chủ thể văn hóa nòng cốt giới thiệu; có khả năng tiếp thu các tri thức, kỹ năng và thực hành độc lập một trong những nội dung đã được trao truyền, tiếp nhận từ cộng đồng hoặc từ chủ thể văn hóa nòng cốt; có tinh thần tự nguyện, ý thức trách nhiệm và cam kết tiếp tục tham gia các hoạt động thực hành, trao truyền văn hóa truyền thống, bao gồm hoạt động phục hồi văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một và không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống cần bảo tồn.
Liên quan đến việc phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số gắn với du lịch cộng đồng, Nghị định quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã căn cứ điều kiện thực tiễn của địa phương, xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, đề án, dự án hỗ trợ cho cá nhân, cộng đồng phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số gắn với du lịch cộng đồng tại địa phương; hỗ trợ xây dựng và phát triển các mô hình bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống; hoạt động của các câu lạc bộ văn hóa, nghệ thuật dân gian dân tộc thiểu số; hoạt động thực hành và trao truyền văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng; tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng; khuyến khích tổ, nhóm, tổ hợp tác, hợp tác xã và cộng đồng dân cư tham gia quản lý các hoạt động du lịch cộng đồng; bảo đảm cộng đồng được thụ hưởng từ việc khai thác văn hóa truyền thống.
Múa trống Chhay-dăm của đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Tây NinhVề nguồn lực phục hồi, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, Nghị định nêu rõ kinh phí thực hiện các nhiệm vụ căn cứ khả năng cân đối ngân sách nhà nước và phân cấp ngân sách hiện hành theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Ngân sách trung ương bảo đảm kinh phí cho bộ, cơ quan ngang bộ để thực hiện các chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ có liên quan, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách trung ương và theo quy định của pháp luật; Ngân sách địa phương bảo đảm kinh phí thực hiện các nhiệm vụ phù hợp với khả năng cân đối ngân sách địa phương và theo quy định của pháp luật, trong đó ưu tiên kinh phí cho các địa bàn xã, thôn đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo và đặc khu, các dân tộc có khó khăn đặc thù.
Kinh phí từ các Chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình, đề án, dự án khác được lồng ghép để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn, bảo đảm không trùng lặp về đối tượng, nội dung, nhiệm vụ.
Nguồn lực xã hội do tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư, tài trợ hoặc hỗ trợ hoạt động phục hồi, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống; giới thiệu, quảng bá và phát triển sản phẩm văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật; Doanh nghiệp, tổ chức và người dân tham gia đóng góp tự nguyện bằng tiền, hiện vật hoặc ngày công lao động để thực hiện chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ phục hồi, bảo tồn, duy trì và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật. Các nguồn lực hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Mức hỗ trợ chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận trực tiếp tham gia hoạt động thực hành, trao truyền văn hóa truyền thống trong các chương trình, đề án, dự án do cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập chủ trì tổ chức được hỗ trợ kinh phí như sau: Chủ thể văn hóa nòng cốt: 400.000 đồng/người/buổi; chủ thể văn hóa kế cận: 300.000 đồng/người/buổi; Số buổi hỗ trợ tối đa không quá 20 buổi/chương trình, kinh phí thực hiện được chi trả trong phạm vi dự toán được cấp thẩm quyền giao.
Hỗ trợ kinh phí hằng tháng cho chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận tham gia các hoạt động phục hồi, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống theo chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh căn cứ điều kiện thực tiễn và khả năng cân đối ngân sách địa phương để quyết định hình thức và mức hỗ trợ cụ thể, bảo đảm nguyên tắc: không thấp hơn mức hỗ trợ tối thiểu đối với các hoạt động tương tự đã được quy định tại các văn bản pháp luật hiện hành áp dụng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Theo Nghị định, Bộ Dân tộc và Tôn giáo được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lồng ghép các chính sách phục hồi, bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.