Những minh triết của rừng
Mỗi cánh rừng đều có những câu chuyện mà chỉ thời gian mới có thể lưu giữ. Và đôi khi, cách gần nhất để chạm vào những câu chuyện ấy là lắng nghe những già làng đã dành phần lớn cuộc đời sống cùng núi rừng, cùng buôn làng và chứng kiến bao đổi thay của quê hương.
Ở các bản làng Cơ Tu phía tây TP. Đà Nẵng, già làng, trưởng bản và Người có uy tín từ lâu đã trở thành những điểm tựa quan trọng của cộng đồng. Họ không chỉ am hiểu phong tục, luật tục, tiếng nói và những câu chuyện truyền đời của dân tộc mình, mà còn là những người đi đầu trong vận động bà con thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng đời sống mới, phát triển kinh tế, giữ gìn an ninh trật tự và bảo vệ rừng.
Điều làm nên uy tín của họ trước hết là sự nêu gương. Nói đi đôi với làm, vận động người khác từ chính những việc mình đã làm được. Bởi vậy, lời nói của một già làng có khi không cần nhiều, nhưng đủ sức lay động cả cộng đồng.
Nhiều già làng như A Lăng Nhứch, A Lăng Đàn, Alăng Bhưm, B’ríu Pố, A Lăng Đợi, Cơ Lâu Nhím... đã trở thành những gương mặt tiêu biểu trong đời sống cộng đồng Cơ Tu. Ở vùng cao, còn rất nhiều người như A Lưng Nhắp, Cơ Lâu Blừa, B’lúp Ứ, B’ling Rêu, Pơ Loong Jím... âm thầm làm công việc của mình, từ vận động nhân dân phát triển kinh tế, xây dựng thôn bản đến giữ gìn văn hóa, bảo đảm an ninh trật tự.
Mỗi người một cách đóng góp, nhưng điểm chung là họ đều đang làm công việc của những cây “đại thụ” giữa cộng đồng: Giữ cho những giá trị tốt đẹp không bị đứt gãy trước nhịp sống hiện đại.
Như già làng B’ríu Pố, người Cơ Tu đầu tiên của tỉnh Quảng Nam (cũ) có bằng đại học từ những năm 1980. Ông từng trải qua nhiều công việc trong ngành giáo dục, từ giáo viên, hiệu trưởng đến cán bộ phòng văn hóa huyện, rồi tham gia công tác tại UBND xã, giữ cương vị Bí thư Đảng ủy xã. Đi qua nhiều vị trí công tác, điều ông đau đáu vẫn là làm sao để người Cơ Tu không còn đói nghèo và văn hóa của dân tộc mình không bị mai một.
Lão già làng B'ríu Pố như một “bách khoa thư” miệt mài giữ văn hóa, khởi nguồn kinh tế vùng sâm ba kích cho cả một cộng đồng rộng lớnHơn 30 năm qua, ông miệt mài vận động người dân phát triển cây dược liệu, trong đó có ba kích, đẳng sâm; hướng dẫn bà con thay đổi cách làm ăn, biết đào ao nuôi cá, làm chuồng nuôi lợn, nuôi gà, từng bước tạo sinh kế ngay trên mảnh đất quê hương.
Cây ba kích từ chỗ là một loại cây rừng đã trở thành cây hàng hóa, góp phần mở ra hướng thoát nghèo cho nhiều hộ dân. Đời sống bà con đổi thay, những ngôi nhà tranh, tre, nứa, lá dần nhường chỗ cho nhà cửa kiên cố, khang trang.
Người dân gọi ông bằng cái tên trìu mến “Vua sâm ba kích”, nhưng có lẽ cái tên “Già làng 4 giỏi” mới nói đầy đủ hơn về một đời ông: giỏi học chữ, giỏi làm kinh tế, giỏi giữ văn hóa và giỏi vận động dân bản.
Già A Lăng Đợi luôn có một phong thái rất riêng, mộc mạc nhưng cuốn hút, giản dị nhưng đậm chất nghệ sĩỞ một phương diện khác, già làng A Lăng Đợi lại dành phần lớn cuộc đời để sống và truyền cảm hứng từ văn hóa Cơ Tu. Ông yêu tiếng hát, tiếng trống chiêng, những món ăn truyền thống, những bộ trang phục và nếp sống của dân tộc mình. Trong nhiều chương trình văn hóa, lễ hội, những chuyến giao lưu trong và ngoài nước, hình ảnh A Lăng Đợi trong trang phục truyền thống, tay cầm quạt cánh chim, thổi tù và, dẫn đầu đoàn múa cồng chiêng đã trở nên quen thuộc.
Nhưng phía sau một hình ảnh già làng đậm chất nghệ sĩ ấy là một người hiểu sâu và sống cùng văn hóa Cơ Tu. Với ông, văn hóa không phải thứ chỉ đem ra trình diễn trong lễ hội. Văn hóa nằm trong cách nói, cách ứng xử, cách đón tiếp khách, trong tiếng chiêng, điệu hát, món ăn và cả cách người Cơ Tu kể cho con cháu nghe về nguồn cội của mình.
Bởi thế, mỗi lần xuất hiện trước cộng đồng, ông không chỉ trình diễn một nét văn hóa mà còn trao đi một phần ký ức của tộc người.
Khi niềm tin kết thành sức mạnh
Những đêm cuối tháng 9/2026, tại Liên hoan “Vui hội Cơ Tu - Hòa Vang năm 2026” ở thôn Phú Túc, xã Hòa Vang, câu chuyện về những già làng, Người có uy tín lại được nhắc đến nhiều. Người ta nhắc về họ bằng sự kính trọng, nhưng sâu hơn là sự biết ơn. Bởi trong những bản làng Cơ Tu hôm nay, phía sau những đổi thay về đường sá, nhà cửa, sinh kế và đời sống còn có dấu ấn của những người đã dành cả cuộc đời để vận động bà con cùng đi về một hướng.
Già làng B’ríu Thiện (thứ ba từ phải sang) tích cực giữ vững an ninh, giúp đồng bào phát triển kinh tế, vun đắp cho tương lai với những quỹ khuyến học, động viên con cháu học hànhNhững bản làng nép mình bên sườn Trường Sơn đã thay đổi rất nhiều. Chính sách dân tộc, các chương trình mục tiêu quốc gia và sự đầu tư của Nhà nước tạo thêm nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhưng để chính sách đi vào đời sống, để một chủ trương trở thành hành động cụ thể trong từng gia đình, vai trò của già làng và Người có uy tín vẫn đặc biệt quan trọng.
Họ là những người hiểu tiếng nói của cộng đồng và cũng hiểu những yêu cầu của cuộc sống mới. Họ giải thích chính sách bằng ngôn ngữ của bản làng, vận động người dân từ những câu chuyện gần gũi, thiết thực nhất.
Già làng B’ríu Thiện ở xã Sông Kôn là một người như thế. Từng là người lính Cụ Hồ, sau ngày đất nước thống nhất trở về quê hương và làm trưởng công an xã, ông tiếp tục gắn bó với bản làng bằng những công việc tưởng như nhỏ bé nhưng có ý nghĩa lâu dài.
Ông hướng dẫn bà con Cơ Tu trồng lúa nước, phát triển cây keo, cây quế để nâng cao thu nhập. Khi trong bản xảy ra mâu thuẫn hoặc những tập tục lạc hậu ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng, ông cùng chính quyền, người già và Người có uy tín bàn bạc, vận động bà con xây dựng hương ước, quy ước.
Những điều được thống nhất rất giản dị: Không vi phạm pháp luật, không tàng trữ vũ khí, không để con em sa vào tệ nạn xã hội, tích cực bảo vệ rừng, bảo vệ bản làng. Từ chuyện làm ăn đến chuyện giữ làng, từ an ninh trật tự đến giáo dục con cháu, già làng hiện diện như một người dẫn đường. Ông còn xây dựng quỹ khuyến học, động viên con cháu học hành, bởi ông hiểu rằng muốn bản làng thay đổi bền vững thì trước hết phải thay đổi từ thế hệ trẻ.
Đó cũng là điểm chung ở nhiều già làng, Người có uy tín nơi đây. Họ không chỉ giải quyết những việc của hôm nay mà còn nghĩ đến những gì sẽ còn lại cho thế hệ sau.
Trong cộng đồng người Cơ Tu, uy tín không tự nhiên mà có. Đó là kết quả của một đời sống gương mẫu, của những việc làm cụ thể và sự tận tâm với cộng đồng. Vì thế, khi một già làng lên tiếng vận động người dân bảo vệ rừng, bỏ hủ tục, cho con đi học hay thay đổi cách làm ăn, lời nói ấy thường có sức nặng đặc biệt.
“Quyền lực mềm” được tạo nên từ niềm tin.
Bên cạnh những người đi đầu trong phát triển kinh tế, vận động nhân dân, nhiều già làng còn là nghệ nhân, những người đang giữ lửa cho các làng nghề, lễ hội và không gian văn hóa truyền thống.
Già làng Cơ Lâu Nhím ở xã Đông Giang là một trong những người như vậy. Ông gắn bó với không gian lễ hội, nghệ thuật và kiến trúc truyền thống của buôn làng Cơ Tu. Hiểu từng góc làng, từng câu chuyện của cộng đồng, ông lặng lẽ kể lại cho thế hệ sau, để những gì thuộc về ký ức không chìm vào quên lãng.
Những già làng Cơ Tu trong ngày lễ hội Ở những ngôi làng nép mình bên sườn núi, tiếng chiêng vẫn vang lên mỗi mùa lễ hội, khói bếp chiều còn bảng lảng trên mái nhà sàn. Những bộ trang phục truyền thống, những điệu múa, lời hát, món ăn, nghi lễ và tập quán được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Trong dòng chảy ấy, già làng và Người có uy tín chính là những người giữ nhịp. Họ giữ văn hóa không chỉ bằng việc thuộc lòng những phong tục cũ, mà bằng cách làm cho những giá trị ấy tiếp tục có chỗ đứng trong đời sống hôm nay. Họ vận động lớp trẻ học tiếng nói của dân tộc, tham gia đội văn nghệ, biết làm nghề truyền thống, hiểu ý nghĩa của lễ hội và trân trọng những gì cha ông để lại.
Quan trọng hơn, họ giúp cộng đồng nhận ra rằng văn hóa không tách rời cuộc sống. Giữ văn hóa cũng là giữ sự gắn kết; giữ rừng cũng là giữ sinh kế; giữ tiếng nói, phong tục cũng là giữ căn cước của một cộng đồng.
Những già làng Cơ Tu trong một nghi lễ tâm linh truyền thống của làngBởi vậy, vai trò của những già làng, Người có uy tín không chỉ nằm trong phạm vi một bản, một thôn. Họ là cầu nối giữa chính quyền và nhân dân, giữa truyền thống và hiện đại, giữa những chính sách phát triển với đời sống cụ thể của từng gia đình.
Trong những năm qua, công tác dân tộc và việc thực hiện các chính sách dân tộc ngày càng được chú trọng, góp phần củng cố niềm tin của đồng bào đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Ở cơ sở, những già làng, Người có uy tín chính là những người góp phần đưa chủ trương, chính sách đến gần hơn với người dân; đồng thời phản ánh tâm tư, nguyện vọng của cộng đồng đến chính quyền.
Từ vận động sản xuất, xây dựng đời sống văn hóa đến giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ rừng, hòa giải mâu thuẫn, phòng chống tệ nạn xã hội, khuyến học..., công việc của họ trải rộng trên nhiều lĩnh vực. Mỗi việc làm có thể nhỏ, nhưng khi được cộng đồng tin theo, sức lan tỏa lại rất lớn.
Đặc biệt, trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 (Chương trình MTQG 1719) và hiện nay là Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 (Chương trình MTQG 417) vai trò của già làng người có uy tín là không thể thiếu. Sự thành công của các chương trình có phần đóng góp rất quan trọng của lực lượng này.
Trường Sơn vẫn thăm thẳm, những bản làng Cơ Tu vẫn nằm giữa mây ngàn, nhưng nhịp sống mới đang từng ngày mang đến những đổi thay. Giữa dòng chảy ấy, tiếng chiêng, lời hát, những câu chuyện nguồn cội, những cánh rừng và sự gắn kết cộng đồng vẫn được gìn giữ.
Phía sau những giá trị ấy là bóng dáng các già làng, Người có uy tín – những cây đại thụ rễ cắm sâu vào quê hương, bền bỉ giữ văn hóa, mở đường sinh kế, bảo vệ bình yên và vun đắp tình đoàn kết. Rồi một ngày, những mái tóc bạc sẽ thưa dần, nhưng những gì họ gieo vào cộng đồng vẫn còn ở lại, như một mạch nguồn lặng lẽ chảy qua nhiều thế hệ Cơ Tu.