Nuôi ngựa bạch trở thành sinh kế hiệu quả của nhiều gia đìnhTrên cao nguyên Bắc Hà (Lào Cai), Đồng Văn hay Quản Bạ (Tuyên Quang)… con ngựa từ lâu đã gắn bó mật thiết với đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số. Trước đây, ngựa chủ yếu dùng để thồ hàng, kéo xe, vận chuyển nông sản qua những cung đường núi hiểm trở. Khi cơ giới hóa dần thay thế sức kéo truyền thống, người dân buộc phải tìm hướng tồn tại mới cho vật nuôi quen thuộc này. Quá trình chuyển đổi ấy đã hình thành nghề nuôi ngựa bạch theo hướng hàng hóa.
Ngựa bạch là giống vật nuôi có khả năng thích nghi tốt với khí hậu lạnh, địa hình dốc và nguồn thức ăn tự nhiên phong phú. Những người có thâm niên chăn nuôi ngựa lâu năm ở Lào Cai cho biết, ngựa dễ nuôi, thức ăn chủ yếu chỉ là cỏ, chuối, ngô và cám công nghiệp. So với bò, ngựa ăn ít hơn, mỗi ngày chỉ 2 lần ăn, mỗi lần khoảng 5kg cỏ. Hơn nữa, ngựa ít bị bệnh tật. So trong loài thì ngựa bạch quý hơn ngựa đen, ngựa đỏ. Ngựa bạch có thuộc tính hiền, dễ nuôi. Thịt ngựa bạch ngọt, mềm; xương có thể nấu cao. Cao xương ngựa bạch cho chất lượng tốt, có tác dụng bổ dưỡng, ích khí, mạnh gân xương cơ, điều trị hiệu quả một số bệnh về viêm khớp, hen phế quản, tiểu đường, bổ dưỡng cho trẻ còi xương... Tại xã Hữu Kiên, tỉnh Lạng Sơn, mỗi năm, từ chăn nuôi ngựa bạch, người dân thu nhập từ 50 triệu đồng/hộ/năm trở lên, cao gấp đôi so với ngựa thường, góp phần giảm nghèo hiệu quả.
Nghề nuôi ngựa bạch phù hợp với điều kiện sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số. Ngoài tận dụng đồng cỏ tự nhiên và phụ phẩm nông nghiệp để đảm bảo thức ăn, người nuôi chỉ cần thường xuyên theo dõi, lúc nào thấy chúng có biểu hiện đau ốm thì báo cho cán bộ thú y tới khám. Với điều kiện miền núi, nơi quỹ đất sản xuất hạn chế và giao thông còn khó khăn, nuôi ngựa bạch là mô hình vừa phù hợp sinh thái, vừa tạo giá trị kinh tế cao trên đơn vị lao động.
Lợi ích nhiều là thế, nhưng phát triển đàn ngựa bạch không đơn giản. Nguyên nhân là càng quý thì giá giống càng cao, đòi hỏi người chăn nuôi phải có nguồn vốn lớn. Một con ngựa bạch giống hiện có giá tới 40 - 50 triệu đồng. Vậy nên, không dễ để đồng bào có thể mở rộng đàn nếu không có những chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Giá thành ngựa bạch trưởng thành (khoảng 4 - 5 tuổi) đủ điều kiện nấu cao rất cao, khoảng hơn 200 triệu đồng một con, cao hơn nhiều giá các loại gia súc khác.
Theo chia sẻ của anh Vàng Văn Giang, xã Bắc Hà, tỉnh Lào Cai - nơi có truyền thống nuôi ngựa đua thì ngựa thịt và ngựa sinh sản chỉ sau khoảng một năm chăm sóc đã có thể xuất bán với giá trị cao. Sự thay đổi này phản ánh một chuyển dịch quan trọng, người dân không còn nuôi ngựa chỉ vì tập quán văn hóa, mà đã tính toán bài toán thị trường, vòng quay vốn và hiệu quả sinh lời. Tại Bắc Hà, mỗi hộ chỉ cần duy trì 3-5 con ngựa sinh sản đã có thể tạo nguồn thu thường xuyên từ bán ngựa con, phối giống và dịch vụ vận chuyển. Ngựa trở thành “khoản tiết kiệm sinh học”, khi cần vốn có thể bán ngay mà không phụ thuộc mùa vụ nông nghiệp.
Nhìn ở góc độ phát triển dài hạn, nuôi ngựa bạch hội tụ ba yếu tố quan trọng: Phù hợp sinh thái miền núi; Dựa trên kinh nghiệm truyền thống của cộng đồng; Có khả năng tham gia thị trường giá trị cao. Đây chính là khác biệt cốt lõi so với nhiều mô hình giảm nghèo trước đây vốn phụ thuộc hỗ trợ ngân sách nhưng thiếu tính bền vững.
Nhìn tổng thể, sự phát triển của nghề nuôi ngựa bạch đang mở ra hướng sinh kế phù hợp cho nhiều địa phương miền núi. Từ những triền núi đá khắc nghiệt, con ngựa từng là phương tiện mưu sinh giản đơn, nay có thể trở thành “đòn bẩy” giúp đồng bào dân tộc thiểu số nâng cao thu nhập, giảm nghèo và từng bước tham gia vào tiến trình phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Khi người dân tộc thiểu số làm chủ sinh kế ngay trên quê hương mình, đó chính là phát triển dựa trên nội lực - điều kiện tiên quyết để đảm bảo phát triển bền vững.
Ở vùng cao hôm nay, ngựa bạch không chỉ là vật nuôi mà là vốn, sinh kế, là con đường thoát nghèo bền vững của cả một gia đình. Đối với các địa bàn giáp biên, phát triển sinh kế bằng nghề nuôi ngựa bạch còn giúp đồng bào dân tộc thiểu số yên tâm làm những “cột mốc sống” để bảo vệ chủ quyền biên giới./.