Làng đúc đồng Trà Đông từng là trung tâm của nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng. Ảnh. Báo Thanh HóaTruyền thuyết kể rằng, từ thời nhà Lý, nghề đúc đồng được Lý triều Quốc sư Khổng Minh Không (tên thật là Nguyễn Minh Không) đưa về, dạy lại dân làng; lại có kiến giải khác cho rằng có 2 người họ Vũ có công đưa nghề đúc đồng về cho làng Trà Đông nên ở đây vẫn còn lưu truyền câu: “Đất họ Lê - nghề họ Vũ”. Thời Tự Đức (1848 - 1883), dân phường đúc đồng Trà Đông lập đền thờ ông Tổ nghề đúc đồng Nguyễn Minh Không, gọi là “Đức Thánh”, đồng thời phối thờ 2 ông họ Vũ. Ngôi đền là nơi linh thiêng và được chiêm bái nhiều nhất ở trong vùng.
Hằng năm, vào kỳ tế lễ Tổ nghề đúc đồng, ngày 8/4-13/9 Âm lịch, người dân vùng Trà Đông tổ chức lễ hội với nghi thức long trọng, thể hiện nét đặc trưng có từ lâu đời của phường đúc. Ngoài ra, vào các ngày mùng 1 và ngày rằm hằng tháng, các gia đình làm nghề đúc đồng đều dâng hương cầu “Đức Thánh” phù hộ cho công việc làm ăn sinh sống được tốt lành, thuận lợi. Tôn thờ và nhớ ơn Tổ nghề, người dân Trà Đông rất chuộng và thờ màu đỏ. Họ cho rằng đó là màu lửa, màu “khước” (phước, phúc) của nghề. Những người thợ đúc cũng kiêng việc cho lửa; kiêng đi “xin lửa” trong quá trình đúc, nhất là khi bắt đầu nổi lửa, gọi là “chập lò”.
Nghề đúc đồng đòi hỏi sức khỏe, tính thẩm mỹ cao. Để làm ra một sản phẩm là cả một quá trình gồm nhiều thao tác kỹ thuật khác nhau có tính liên tục và đồng nhất. Từ tạo khuôn, nấu chảy nguyên liệu, pha trộn hợp chất đến đúc sản phẩm… Mỗi thao tác đều có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, tính thẩm mỹ của sản phẩm. Kinh nghiệm trong nghề đúc được coi là những bí kíp. Bí kíp đó chỉ được truyền cho người trong gia đình, không truyền ra ngoài.
Nghề đúc đồng tại Trà Đông vẫn bảo tồn nguyên vẹn các bước chế tác thủ công truyền thống. Ảnh. vneconomy.vnSản phẩm đồng Trà Đông khá đa dạng, từ đồ dân dụng cần thiết trong gia đình đến các loại đồ dùng cho thờ cúng; từ những vật dụng nhỏ dùng để trang trí, chi tiết máy móc theo đặt hàng, đến những đại sản phẩm như: Chuông, tượng, đại tự, cồng, chiêng, tranh… Sản phẩm của làng Trà Đông rất được ưa chuộng trong nước. Dùng nhiều năm vẫn đảm bảo bộ bền, sáng bóng, mẫu mã đẹp và không bị “rỉ đồng”. Năm 1971, các nghệ nhân làng Trà Đông đã đúc thành công tượng Bác Hồ (cao 1,50m, nặng 600kg đồng); tham gia đúc thành công trống đồng Đông Sơn như nguyên mẫu. Tay nghề thợ đúc đồng Trà Đông được nhiều nơi biết, tìm đến học tập, xin được truyền nghề.
Do có nghề đúc, chợ Chè (làng Trà Đông) từ lâu đã là trung tâm buôn bán đồ đồng lớn ở miền Bắc. Khách hàng đến từ khắp nơi trong nước, thậm chí có cả khách nước ngoài thường xuyên đặt hàng gia dụng số lượng lớn mang lại nguồn thu ổn định cho người dân làng đúc. Với người Trà Đông, nghề đúc đồng không chỉ là nghề mang lại kinh tế cho gia đình mà còn nhắc nhở con em trong làng luôn nhớ về Tổ tiên, nhớ về gốc gác và công ơn truyền nghề của những bậc tiền bối xưa. Hơn nữa, đó còn là những giá trị văn hóa gắn liền với những yếu tố lịch sử của vùng đất này.
Chiếc trống đồng giữ kỉ lục Việt Nam tại làng Trà Đông. Ảnh. Dân tríHiện nay, Làng nghề đúc đồng Trà Đông không chỉ là nơi lưu giữ kỹ thuật đúc đồng truyền thống độc đáo của cả nước mà còn là địa chỉ du lịch làng nghề thu hút đông đảo du khách gần xa. Khách du lịch đến với làng Trà Đông không chỉ để tham quan các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh mà trên hết là để thưởng thức tinh hoa nghề của những nghệ nhân với bàn tay khéo léo, tài hoa cùng với những bí kíp nghề quý giá được trao truyền qua nhiều thế hệ...
Với truyền thống lâu đời, nghề đúc đồng Trà Đông không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn có ý nghĩa to lớn về văn hóa, lịch sử. Những gì ghi chép hay truyền miệng còn lưu lại hiện nay mà chúng ta đã biết có thể chưa đầy đủ trong việc nghiên cứu, khám phá những yếu tố khảo cổ trên mảnh đất lâu đời này.