Cán bộ Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Mậu Duệ hướng dẫn người dân quét mã QR để tra cứu và thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến.Cán bộ cơ sở phải đáp ứng yêu cầu mới
Thực tế sau sắp xếp cho thấy, cấp xã ngày càng đảm nhận nhiều công việc trực tiếp liên quan đến người dân. Cán bộ không chỉ nắm chắc quy định, quy trình nghiệp vụ mà còn phải sử dụng thành thạo các hệ thống số, hướng dẫn người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến và xử lý công việc đúng thẩm quyền.
Xã Mậu Duệ (tỉnh Tuyên Quang) được thành lập trên cơ sở sáp nhập 3 xã Mậu Duệ, Mậu Long và Ngam La. Những ngày đầu vận hành mô hình mới, địa phương phải thống nhất khối lượng hồ sơ, dữ liệu hành chính từ các đơn vị cũ trong điều kiện hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ. Tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã, cán bộ Nguyễn Tuấn Tuyên, phụ trách lĩnh vực Tư pháp - Hộ tịch, có thời điểm tiếp nhận khoảng 40 hồ sơ mỗi ngày. Không chỉ xử lý hồ sơ, anh còn trực tiếp hướng dẫn người dân đăng nhập, khai báo thông tin và thực hiện các bước trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Trong 6 tháng đầu năm 2026, lĩnh vực do anh phụ trách có tỷ lệ giải quyết đúng hạn trên 99%; toàn Trung tâm tiếp nhận 1.363 hồ sơ, tỷ lệ giải quyết trước hạn đạt 99%. Kết quả triển khai công việc tại Mậu Duệ cho thấy yêu cầu nâng chất cán bộ cơ sở không chỉ nằm ở việc bổ sung kiến thức, mà còn thể hiện ở khả năng thích ứng với phương thức làm việc mới và trực tiếp hỗ trợ người dân tiếp cận dịch vụ công số. Đây cũng là năng lực cần được củng cố khi ngày càng nhiều thủ tục được thực hiện trên môi trường điện tử.
Tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Minh Ngọc, ngay từ khu vực tiếp đón, người dân được hướng dẫn lấy số thứ tự, đăng nhập tài khoản định danh điện tử, kê khai hồ sơ và thực hiện các thủ tục trên môi trường số. Tại các quầy giao dịch, cán bộ luôn túc trực, sẵn sàng hỗ trợ những người chưa quen với công nghệ. Khi đến làm thủ tục hồ sơ anh Nguyễn Văn Khánh, xã Minh Ngọc rất phấn khởi vì chỉ sau ít phút, hồ sơ của anh đã được tiếp nhận đầy đủ. Điều khiến anh hài lòng là mọi thành phần hồ sơ đều được hướng dẫn cụ thể; nhiều loại giấy tờ được khai thác trực tiếp từ cơ sở dữ liệu điện tử nên không còn phải photo, chứng thực như trước.
Trong thời gian tới, yêu cầu này tiếp tục được cụ thể hóa qua các hoạt động bồi dưỡng. Văn phòng Uỷ ban Nhân dân tỉnh tổ chức tập huấn nghiệp vụ tiếp công dân, giải quyết thủ tục hành chính và đổi mới chế độ một cửa, một cửa liên thông cho đội ngũ cán bộ, công chức các xã, phường. Cùng thời gian, tỉnh tổ chức bồi dưỡng năng lực số, kỹ năng số và an toàn dữ liệu công vụ cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng làm công tác chuyển đổi số tại cơ sở.
Người dân làm thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Minh Ngọc.Đánh giá bằng kết quả và sự hài lòng
Cùng với nâng chất đội ngũ, tỉnh Tuyên Quang đang đổi mới cách đánh giá kết quả CCHC. Ngày 20/8/2026, Uỷ ban Nhân dân tỉnh Tuyên Quang ban hành Quyết định số 2099/QĐ-UBND phê duyệt Đề án xác định Chỉ số cải cách hành chính của các sở, ban, ngành và Uỷ ban Nhân dân xã, phường. Đề án được xây dựng theo hướng kết hợp đánh giá định lượng với định tính, giữa kết quả thực hiện nhiệm vụ với tác động, hiệu quả của cải cách hành chính.
Đối với xã, phường, bộ tiêu chí mới gồm 8 lĩnh vực, 41 tiêu chí và 86 tiêu chí thành phần. Trong tổng số 100 điểm, 68 điểm đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và 32 điểm thông qua điều tra xã hội học. Như vậy, bên cạnh việc xem xét cơ quan đã thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính đến đâu, cơ chế mới dành một phần đáng kể để ghi nhận đánh giá từ người dân, tổ chức. Việc nâng cao năng lực cán bộ cùng với đổi mới phương thức đánh giá cho thấy yêu cầu xuyên suốt trong quá trình vận hành chính quyền địa phương 2 cấp ở tỉnh Tuyên Quang: Cán bộ phải đáp ứng yêu cầu công việc, bộ máy phải hoạt động thông suốt và hiệu quả cải cách hành chính cần được nhìn từ chất lượng phục vụ người dân, tổ chức.
Đề án xác định Chỉ số cải cách hành chính của các sở, ban, ngành và Uỷ ban Nhân dân xã, phường trên địa bàn tỉnh không đơn thuần là một cách chấm điểm, bởi kết quả đánh giá được đặt trong mối liên hệ giữa những việc cơ quan, đơn vị đã thực hiện và mức độ hài lòng của người dân, tổ chức. Cách đánh giá này giúp nhìn rõ hơn chất lượng cải cách tại từng cơ quan, từng địa bàn, đồng thời nhận diện những khâu còn hạn chế để có điều chỉnh phù hợp. Cùng với việc nâng cao năng lực đội ngũ, đó cũng là cơ sở để chất lượng phục vụ người dân được cải thiện từ những công việc cụ thể ở cơ sở./.