Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Bản sắc và giá trị văn hóa trong nghi lễ nông nghiệp của người Khmer ở Nam Bộ

Minh Hồng - 21:18, 08/03/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Khmer là tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, cư trú lâu đời ở Nam Bộ, có văn hóa truyền thống phong phú, đa dạng với nhiều giá trị đặc sắc. Trong đó, nghi lễ nông nghiệp đóng vai trò trung tâm trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người Khmer vùng Nam Bộ, ngày nay vẫn còn nhiều giá trị tích cực đối với cuộc sống cộng đồng. Các nghi lễ này phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa con người với tự nhiên trong bối cảnh sản xuất lúa nước và là phương thức quan trọng để củng cố cấu trúc xã hội, duy trì bản sắc văn hóa, cũng như giáo dục đạo đức cộng đồng. Bài viết tập trung phân tích bản sắc, giá trị của nghi lễ nông nghiệp của người Khmer ở Nam Bộ và một số giải pháp bảo tồn, phát huy trong bối cảnh hội nhập và biến đổi kinh tế - xã hội hiện nay.

Vào những ngày Tết Chôl Chăm Thmây, các gia đình người Khmer ở Nam Bộ thường mặc những bộ trang phục đẹp nhất để lên chùa cùng nhau đón mừng năm mới
Vào những ngày Tết Chôl Chăm Thmây, người Khmer ở Nam Bộ thường mặc những bộ trang phục đẹp nhất để lên chùa đón mừng năm mới

Từ khóa: Giá trị văn hóa; Nghi lễ nông nghiệp; Người Khmer; Nam Bộ.

1. Bản sắc nghi lễ nông nghiệp của người Khmer ở Nam Bộ

Người Khmer ở Nam Bộ cư trú chủ yếu tại nơi địa hình thấp, chịu ảnh hưởng sâu sắc của thủy triều và lũ lụt đã hình thành nên một nền văn hóa lúa nước đặc thù, gắn liền với chu kỳ mùa vụ sản xuất một vụ lúa/năm. Vì vậy, hệ thống nghi lễ nông nghiệp phản ánh sự thích ứng văn hóa với môi trường này, nơi yếu tố Nước (Om Tuk) và Đất (Neak Tà) giữ vị trí then chốt.

Người Khmer ở Nam Bộ có một hệ thống nghi lễ nông nghiệp khá đa dạng, phong phú, trong đó có thể kể đến những nghi lễ chính như: lễ cầu mưa, lễ thờ lúa, gọi hồn lúa, đắp núi lúa, Tết Chôl Chnăm Thmây, lễ cúng Trăng (Ok-Om-Bok) và lễ cầu an. Các nghi lễ nông nghiệp được tổ chức theo mùa - theo chu kỳ thời vụ gieo cấy. Các nghi lễ nông nghiệp của người Khmer ở Nam Bộ gắn chặt với chu kỳ sản xuất nông nghiệp kéo dài trong mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11. Tết Chôl Chnăm Thmây với nghĩa là mừng mùa vụ mới trong năm, được tổ chức vào khoảng giữa tháng 4, là lúc người Khmer bắt đầu bước vào mùa vụ sản xuất mới theo nông lịch cổ truyền. Trong lễ hội Chôl Chnăm Thmây, người Khmer tiến hành nghi lễ đắp núi lúa, hoặc núi cát để xua đuổi mùa khô, đón mùa mưa đến sớm để mùa màng tươi tốt, thóc lúa nhiều thêm. Lễ cầu an thường được tổ chức sau Tết Chôl Chnăm Thmây từ 15 đến 30 ngày. Đó là khi người Khmer đã bước vào mùa vụ mới, họ cầu thần thiên nhiên phù hộ độ trì cho họ có một mùa vụ bội thu. Lễ cầu mưa được tổ chức vào tháng 5, tháng 6, khi bước vào mùa mưa. Nhưng nếu trời vẫn nắng gay gắt, người Khmer làm lễ cầu mưa để cho việc sản xuất lúa được thuận lợi. Lễ gọi hồn lúa được tổ chức khi người Khmer bắt đầu bước vào mùa gặt lúa, thu hoạch lúa lễ cúng Trăng (Ok-Om-Bok) được tổ chức vào ngày 15/10 (Âm lịch) là khi xong mùa vụ sản xuất. Lúc này, mùa khô đến, người Khmer cảm ơn thần Mặt Trăng đã cho mưa thuận gió hòa để có một mùa vụ bội thu và thể hiện ước muốn cầu tạnh.

Các nghi lễ nông nghiệp của người Khmer diễn ra ở nhiều địa điểm như ngoài đồng, trong miếu, trong nhà và ở chùa. Trong đó các lễ: cầu mưa, Chôl Chnăm Thmây, Ok-Om-Bok, đắp núi lúa... diễn ra ở chùa là một nét đặc trưng riêng của tộc người Khmer vì đa số họ đều là phật tử.

Lễ vật dâng cúng trong nghi lễ nông nghiệp của người Khmer ở Nam Bộ đều là những sản vật trong nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, trong đó nhiều nhất là những lễ vật làm từ lúa gạo, với những cách chế biến riêng theo văn hóa ẩm thực như: cốm dẹp, num tiênh (bánh ít), num khnhây (bánh gừng làm bằng bột nếp pha với đường, nặn thành hình củ gừng chiên vàng), num akâu (bánh bò)... Ngoài ra, người Khmer ở Nam Bộ thường cúng đầu heo, gà hoặc vịt vì họ cho rằng thần Neak Ta ma chăs sróc thích dùng đầu heo, thần Neak Ta Srê thích con gà luộc hoặc vịt luộc, thần Neang hing prăs thô ra nây thì lại thích dùng trái cây và các loại bánh.

Trong nghi lễ nông nghiệp, người Khmer ở Nam Bộ có rất nhiều lễ thức, vừa thể hiện sự tôn kính đối với các vị thần linh, vừa thể hiện ước mong qua những lời khấn gửi tới thần linh. Các nghi thức được giải thích bằng các Phật tích cũng như mang tính chất Phật giáo. Như nghi thức đặt con cá lóc trong một chậu nước và đặt trước mặt một ông sư ngồi trước thềm chùa để làm lễ tụng kinh cầu mưa dưới trời nắng bắt nguồn từ một huyền thoại. Theo huyền thoại này: “Xưa kia vào một năm nào đó, hạn hán rất to làm các sinh vật bị chết đói. Thương hại chúng sinh, Đức Phật đã tự hóa mình thành một con cá nằm quằn quại trong ao khô để thần Inđra (một vị thần mưa gió trong thần thoại Ấn Độ) thấy Phật quá khổ mà làm mưa xuống”. Một dị bản khác về huyền thoại này lại cho rằng không phải cá lóc nằm quằn quại trong ao khô để chờ mưa mà chính cá lóc đích thân lên

Trời kêu cứu. Nghi thức rước quyền đại lịch trong ngày đầu tiên của lễ hội Chôl Chnăm Thmây (theo đó, tất cả xếp thành hàng một, đi vòng quanh chính điện 3 lần để chào mừng năm mới và nhận thêm một tuổi), gắn với thần thoại Thomabal và Kabal Maha Prum (thần Bốn mặt). Bên cạnh đó, người Khmer còn có những nghi thức mang tính chất của Phật giáo như: đọc kinh, thuyết pháp, cầu siêu, tắm tượng Phật trong lễ hội Chôl Chnăm Thmây, lễ hội cầu an...

Về các vị thần được thờ phụng trong nghi lễ nông nghiệp, người Khmer ở Nam Bộ thờ rất nhiều các vị thần tự nhiên, trong đó những vị thần quan trọng nhất của sản xuất nông nghiệp là thần Đất, thần Nước và thần Lúa. Mỗi vị thần có vai trò rất lớn đến sản xuất nông nghiệp, như trong lễ cầu mưa thờ thần Neak Ta ma chăs sróc (thần cai quản xóm làng) và thần cai quản việc làm mưa, trong lễ cúng Trăng thờ thần Mặt Trăng, trong lễ cầu an thờ thần Neak Ta srê (thần cai quản ruộng đồng), thần Neang Hing prăs thôranây (thần Đất) là thần cai quản đất đai, trong lễ gọi hồn lúa thờ thần Lúa.

Bên cạnh đó, các nghi lễ nông nghiệp của người Khmer ở Nam Bộ còn thể hiện đặc trưng riêng là thờ Phật như: lễ Chôl Chnăm Thmây, lễ cầu an, do đại đa số người Khmer đều theo Phật giáo Nam tông Khmer.

Một đặc điểm quan trọng trong nghi lễ nông nghiệp của người Khmer ở Nam Bộ là sự hiện diện của sư sãi, chùa chiền, như trong ngày Tết Chôl Chnăm Thmây chỉ có chùa chiền là đông vui, nhiều gia đình vào hết trong chùa ăn Tết; hay trong lễ đua ghe thì ghe cũng là của chùa; trong lễ cúng Trăng, lễ cầu mưa, lễ cầu an, các nghi lễ trong Tết Chôl Chnăm Thmây đều có một số nghi thức do sư sãi thực hiện và được thực hiện tại chùa. Có thể nói, Phật giáo Nam tông Khmer đã trở thành một thành tố đặc biệt quan trọng trong văn hóa truyền thống của người Khmer.

2. Các giá trị của nghi lễ nông nghiệp của người Khmer ở Nam Bộ

Hệ thống nghi lễ nông nghiệp của người Khmer được tổ chức theo chu kỳ khép kín của vụ lúa, từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, mang lại nhiều giá trị cho cộng đồng người Khmer.

Các nghi lễ nông nghiệp của người Khmer ở Nam Bộ thực chất là thực hiện chức năng tôn giáo, góp phần thỏa mãn đời sống tâm linh của mình. Một số nghi lễ nông nghiệp diễn ra ở thời điểm vào mùa với mong muốn thỉnh cầu Tổ tiên, các lực lượng siêu nhiên trợ giúp cho mùa màng tươi tốt, mưa thuận gió hòa, âm dương tương hợp; còn một số nghi lễ diễn ra sau mùa thu hoạch là để tạ ơn thánh thần, trời đất, Tổ tiên mang lại mùa màng tươi tốt bội thu. Hầu hết các nghi lễ nông nghiệp của người Khmer có chức năng thực hành các sinh hoạt tôn giáo vì quan niệm càng đi lễ nhiều càng được nhiều phúc đức, càng có cuộc sống yên vui. Khi tham gia lễ nghi nông nghiệp có thờ Phật, người Khmer được tụng kinh, nghe thuyết pháp và cầu nguyện, xin Phật phù hộ độ trì cho thoát khỏi mọi rủi ro trong cuộc sống...

Trong văn hóa, nghi lễ nông nghiệp của người Khmer là nơi thể hiện đạo lý, triết lý sống và các phong tục truyền thống của người Khmer. Các lễ nghi của đồng bào Khmer thể hiện lòng tôn trọng, yêu quý các sản phẩm nông nghiệp do mình tạo ra, tôn trọng sản phẩm của lao động cũng có nghĩa là tôn trọng lao động con người. Như trong lễ thờ thần Lúa và gọi hồn lúa, người Khmer thể hiện trân trọng những hạt lúa, hạt gạo do mình làm ra, vì cho rằng lúa cũng có linh hồn, đáng được thờ phụng.

Thực hành các lễ nghi nông nghiệp là để người Khmer ở Nam Bộ thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, biết ơn Tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những người đã có công dưỡng dục mình, những người có công lao đối với sự phát triển của phum, sóc. Trong nghi lễ, con cháu sẽ dùng nước hoa thơm tắm cho ông bà, cha mẹ, nghi thức làm lễ cầu siêu cho linh hồn của người thân đã quá cố... như trong ngày Tết Chôl Chnăm Thmây, người Khmer và sư sãi đều làm lễ đọc kinh cầu siêu (Băng Skôl/Bâng Skâu) vào khoảng 12 giờ trưa, tại tháp, nơi đặt tro cốt của người đã khuất. Một số gia đình mời sư sãi đến nhà để cầu siêu cho ông bà, cha mẹ hay người thân đã quá cố. Thông qua các nghi lễ nông nghiệp, người Khmer có sự gắn kết cộng đồng qua các hoạt động chung. Trong ngày Tết Chôl Chnăm Thmây, người Khmer không chỉ lo chuẩn bị lễ trong gia đình, nhiều người, nhất là những người lớn tuổi, còn đến chùa để làm công quả, cùng nhau dọn dẹp, lau chùi lư hương, bàn thờ Phật... để mọi người đến đây cùng nhau đón mừng năm mới. Các thanh niên cũng đến chùa để luyện tập các bài hát theo giàn ngũ âm truyền thống để ca hát trong dịp lễ. Hay trong lễ cầu an, trước ngày vào lễ, bà con trong phum, sóc cùng nhau tập trung vệ sinh môi trường, sửa chữa cầu cống, làm đường nhằm phục vụ cho việc đi lại và tạo điều kiện cho việc tổ chức lễ được diễn ra thuận lợi, tươm tất hơn. Sau đó, tất cả bà con cùng nhau ngồi lại ăn một bữa cơm thân mật, cùng nhau trao đổi về cuộc sống và những kinh nghiệm trong sản xuất, sinh hoạt. Mỗi người một hoàn cảnh nhưng đến với lễ nghi nông nghiệp, người Khmer thấy được sợi dây vô hình nối kết họ lại với nhau đều cùng hướng tới một niềm mơ ước, mong mỏi chung là mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi để mang lại mùa màng bội thu cho cả phum, sóc.

Các nghi lễ nông nghiệp góp phần bảo lưu nét văn hóa ẩm thực riêng của người Khmer. Trong các lễ nghi nông nghiệp bao giờ cũng phải chuẩn bị những lễ vật dâng cúng cho thần linh cũng như các món ăn dành cho bữa ăn chung. Vì vậy, các lễ nghi nông nghiệp còn là nơi bảo lưu các món ăn truyền thống của người Khmer. Đây là những lễ vật dâng cúng thần linh nên đó phải là những món ăn ngon hơn, đặc biệt hơn, bày biện đẹp mắt... thể hiện lòng tôn kính của con người đối với các vị thần linh. Nét đặc sắc văn hóa ẩm thực của người Khmer được lưu giữ trong các lễ nghi nông nghiệp chính là các món ăn được làm từ lúa gạo, như cốm dẹp, các loại bánh như num chruk (bánh tét), num tiênh (bánh ít), num khnhây (bánh gừng làm bằng bột nếp pha với đường, nặn thành hình củ gừng chiên vàng), num akâu (bánh bò). Những món ăn được chế biến cầu kỳ này không phải ngày nào người Khmer cũng có thể chế biến và thưởng thức, vì vậy, thông qua các lễ nghi nông nghiệp, các món ăn truyền thống của người Khmer từ xưa vẫn được bảo lưu.

Các lễ nghi nông nghiệp góp phần bảo lưu các loại hình nghệ thuật truyền thống của người Khmer. Trong khi thực hiện các lễ nghi nông nghiệp, một số điệu múa, nhạc điệu dân tộc của người Khmer đã trở thành một phần thuộc các nghi thức của lễ nghi. Trong lễ hội cúng Trăng có lễ thả đèn nước trên sông, rạch ao hồ và thả đèn giấy bay theo gió. Ngoài ra, sau khi tiến hành các nghi lễ nông nghiệp, một số nơi tổ chức các trò chơi dân gian truyền thống như đấu võ, kéo co, đua ghe ngo hoặc biểu diễn các loại hình nghệ thuật truyền thống được người Khmer yêu thích, như múa Lâm thôn, nghệ thuật Dù kê, Rô băm, hát Roăm vông, Lăm leo, Ađay... Do đó, nghi lễ nông nghiệp cũng là nơi bảo lưu nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống của người Khmer.

3. Một số giải pháp bảo tồn, phát huy các nghi lễ nông nghiệp của người Khmer ở Nam Bộ

Nghi lễ nông nghiệp của người Khmer đang đứng trước thách thức lớn từ sự thay đổi mô hình sản xuất, thâm canh nhiều vụ lúa, sử dụng công nghệ và sự suy giảm của tín ngưỡng dân gian, vì vậy, cần thực hiện một số giải pháp để bảo tồn, phát huy các nghi lễ nông nghiệp của người Khmer ở Nam Bộ.

Một là, nâng cao nhận thức về truyền thống văn hóa của dân tộc cho người Khmer, nhất là thế hệ trẻ, để từ đó mỗi cá nhân có ý thức bảo tồn, phát huy nghi lễ nông nghiệp của dân tộc mình. Điều này giúp cho mỗi người Khmer hiểu rằng, mặc dù, hiện nay, môi trường kinh tế, xã hội không giống với môi trường kinh tế - xã hội nguyên gốc sản sinh ra các lễ nghi nông nghiệp của người Khmer, nhưng vẫn cần phải bảo tồn và phát huy các nghi lễ này bởi những giá trị tích cực mang lại cho đời sống cộng đồng khi thực hiện các nghi lễ này vẫn còn tồn tại.

Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo tồn và phát huy các lễ nghi nông nghiệp của người Khmer ở Nam Bộ. Người Khmer là chủ thể thực hành các lễ nghi nông nghiệp, do đó họ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy các lễ nghi nông nghiệp. Các lễ nghi nông nghiệp chỉ thật sự có ý nghĩa và giá trị khi bắt nguồn từ tâm tưởng sâu xa của con người, khi con người thấy thật sự cần, nhu cầu đó thật sự thôi thúc từ trong lòng mình. Vì vậy, để bảo tồn và phát huy các nghi lễ nông nghiệp phải làm cho người Khmer thấy được sự cần thiết và có nhu cầu thực sự, mong muốn, mong đợi được thực hành các nghi lễ nông nghiệp này. Cần giúp đồng bào hiểu rõ những giá trị, cái hay cái đẹp trong các lễ nghi nông nghiệp truyền thống của người Khmer. Công tác tuyên truyền, giáo dục cần thực hiện một cách kiên trì, bền bỉ, trong đó tập trung vào những đối tượng có nguy cơ mất nhu cầu duy trì, thực hành các lễ nghi nông nghiệp như người thoát ly nông nghiệp, thế hệ trẻ.

Ba là, có chính sách hợp lý đối với những người còn nắm giữ các nghi thức trong lễ nghi nông nghiệp. Những người nắm được tương đối đầy đủ các nội dung của lễ nghi nông nghiệp truyền thống của người Khmer không nhiều, chủ yếu là các Achar và những người lớn tuổi trong phum, sóc. Vì vậy, cần có những chính sách phù hợp động viên cả về mặt vật chất và tinh thần để khai thác vốn tri thức cũng như vai trò của họ trong việc bảo tồn và phát huy các lễ nghi nông nghiệp truyền thống, khuyến khích họ giữ gìn và truyền nghề cho các thế hệ kế cận.

Bốn là, điều tra, sưu tập để có những định hướng trong việc bảo tồn và phát huy các lễ nghi nông nghiệp truyền thống của người Khmer. Khi môi trường tồn tại của lễ nghi nông nghiệp hiện nay đã khác nhiều so với nguyên bản của nó thì cần có tinh thần “gạn đục, khơi trong” trong việc bảo tồn, phát huy các nghi lễ nông nghiệp của người Khmer. Việc này cần huy động toàn xã hội vào công tác bảo tồn, phát huy có hiệu quả các di tích gắn với phát triển kinh tế - xã hội, phát triển du lịch của địa phương.

Năm là, quan tâm, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng thiết chế văn hóa ở cơ sở, một số ngôi chùa trọng điểm và trang bị cơ sở vật chất nhằm tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, cổ động đồng bào dân tộc Khmer, bảo tồn, phát huy giá trị nghi lễ nông nghiệp của dân tộc mình.

Sáu là, hỗ trợ, bài trừ các hủ tục lạc hậu, chống các biểu hiện tiêu cực, thương mại hóa trong tổ chức các hoạt động nghi lễ nông nghiệp; duy trì và phát triển văn hóa ẩm thực, trang phục, nghệ thuật biểu diễn truyền thống, các tri thức văn hóa nghi lễ nông nghiệp.

4. Kết luận

Có thể nói, chỉ khi nào các giải pháp nêu trên được quan tâm và thực hiện một cách đồng bộ thì những giá trị của nghi lễ nông nghiệp của đồng bào Khmer ở Nam Bộ mới được gìn giữ, phát huy trọn vẹn trong cuộc sống cộng đồng và trong quá trình phát triển bền vững của đất nước.

Tài liệu tham khảo:

1. Trần Văn Bính (Chủ biên). Văn hóa các dân tộc Tây Nam Bộ - thực trạng và những vấn đề đặt ra. Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội.

2. Trần Văn Bổn. (1999). Một số lễ tục dân gian người Khmer đồng bằng sông Cửu Long. Nxb Văn hóa Dân tộc. Hà Nội.

3. Trần Văn Bổn. (2002). Phong tục và nghi lễ vòng đời người Khmer Nam Bộ. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Hà Nội.

4. Phạm Thị Phương Hạnh (Chủ biên). (2011). Văn hóa Khmer Nam Bộ nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật. Hà Nội.

5. Sơn Nam (Biên khảo). (2004). Đồng bằng sông Cửu Long - Nét sinh hoạt xưa và văn minh miệt vườn. Nxb Trẻ. TP. Hồ Chí Minh.

6. Huỳnh Thanh Quang. (2008. Giá trị văn hóa Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội.

7. Trung tâm từ điển học. (2008). Từ điển Tiếng Việt. Nxb Đà Nẵng. Đà Nẵng.