Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Đổi mới thể chế và công tác quản lý Nhà nước về phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Phương Liên - 1 giờ trước

(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích thực trạng công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và chính sách phát triển văn hóa dân tộc thiểu số trong giai đoạn 2021-2025. Dựa trên định hướng của Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý cho giai đoạn 2026-2031. Trọng tâm là ưu tiên nguồn lực cho bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số gắn với sinh kế bền vững, phân cấp quản lý và phát huy tối đa vai trò chủ thể của cộng đồng và các nghệ nhân.

Tái hiện Tết Gơ rơ của đồng bào Khơ-mú ở Nghệ An, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
Tái hiện Tết Gơ rơ của đồng bào Khơ-mú ở Nghệ An, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Từ khóa: Thể chế văn hóa; Chính sách văn hóa; Dân tộc thiểu số; Nghị quyết Đại hội XIV; Nghị quyết 80-NQ/TW.

1. Đặt vấn đề

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (tháng 01/2026), Đảng ta đánh giá: “Phát huy giá trị di sản văn hóa chính là khai thác sức mạnh nội sinh để phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng và bền vững”.

Việt Nam có 53 dân tộc thiểu số, mỗi dân tộc có một bản sắc văn hóa riêng. Do đó, văn hóa các dân tộc thiểu số là một bộ phận cấu thành rất quan trọng, góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng và thống nhất của nền văn hóa Việt Nam. Soi chiếu theo quan điểm của Nghị quyết Đại hội XIV thì di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số chính là nguồn lực nội sinh quan trọng, góp phần phát triển bền vững đất nước, là “sức mạnh mềm” trong đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới và Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã xác lập tư duy đổi mới trong phát triển văn hóa với quan điểm: “Đổi mới căn bản, toàn diện tư duy về huy động mọi nguồn lực để phát triển văn hóa, trong đó nguồn lực nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, nguồn lực xã hội, khu vực tư nhân là động lực quan trọng; thể chế đóng vai trò then chốt, nhất là cơ chế, chính sách đột phá để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho văn hóa.” [2].

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá lại bức tranh thể chế văn hóa dân tộc giai đoạn 2021-2025, từ đó phác thảo các giải pháp trọng tâm nhằm đổi mới thể chế và chính sách phát triển văn hóa dân tộc ở Việt Nam giai đoạn 2026-2031 nhằm hiện thực hóa các quan điểm mới của Đảng thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIV và Nghị quyết số 80-NQ/TW.

2. Những bước tiến trong thiết lập thể chế và chính sách văn hóa dân tộc giai đoạn 2021-2025

Giai đoạn 2021-2025, công tác văn hóa dân tộc được triển khai trong bối cảnh Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm ban hành nhiều chủ trương, chính sách mang tính chiến lược, toàn diện và có tính kế thừa, phát triển. Nổi bật là các quan điểm về phát triển văn hóa thể hiện trong Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIII, Hội nghị Văn hóa toàn quốc (năm 2021), Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24 NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác dân tộc... Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã định hướng rõ công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc; chỉ đạo quan điểm tiếp cận mới coi văn hóa ngang bằng với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa là một nguồn lực phát triển đất nước.

Thực hiện các nghị quyết, kết luận của Đảng, giai đoạn này đánh dấu bước ngoặt trong tư duy thiết kế chính sách khi lần đầu tiên các chính sách dân tộc được tích hợp vào Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I từ 2021-2025, trong đó có Dự án 6 - Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch. Sự đổi mới tư duy trong thiết kế chính sách mang ý nghĩa chiến lược vì cung cấp hệ thống mục tiêu tổng thể, các chỉ tiêu cụ thể về về văn hóa dân tộc một cách rõ ràng, cùng với bố trí nguồn lực tập trung và cơ chế tổ chức đồng bộ để đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra.

Ở góc độ cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Chương trình hành động của Bộ thực hiện Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ ban hành Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045; Xây dựng và phê duyệt Chương trình MTQG về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035, trong đó có nhiều nội dung, nhiệm vụ liên quan đến công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, không gian văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống các dân tộc thiểu số…

Bộ đã xây dựng, ban hành một số thông tư quy định định mức kinh tế kỹ thuật và chi phí trong lĩnh vực văn hóa dân tộc, như: Thông tư số 05/2024/ TT-BVHTTDL ngày 17/7/2024 quy định định mức chi phí hỗ trợ sinh hoạt tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam; Thông tư số 19/2025/ TT-BVHTTDL quy định về định mức kinh tế - kỹ thuật dịch vụ tổ chức các sự kiện, hoạt động phục vụ nhiệm vụ chính trị tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam. Ban hành và triển khai nhiều dự án, đề án quan trọng: Dự án 6 thuộc Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: 2021-2025; Đề án “Bảo tồn và phát huy giá trị văn học dân gian các dân tộc thiểu số đến năm 2030”; Đề án “Tổ chức định kỳ Ngày hội, giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch vùng đồng bào các dân tộc thiểu số theo khu vực và toàn quốc giai đoạn 2021-2030”; Đề án “Bảo tồn, phát huy giá trị dân ca, dân vũ, dân nhạc của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2021-2030”. Các dự án, đề án chuyên sâu này đã góp phần cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước, tạo thành mạng lưới chính sách bao phủ nhiều khía cạnh: từ văn học dân gian, dân ca, dân vũ đến các thiết chế văn hóa cơ sở. Nhờ đó, tư duy bảo tồn đã có sự dịch chuyển rõ nét từ phương thức gìn giữ đơn thuần sang gắn kết chặt chẽ với phát triển du lịch cộng đồng và sinh kế bền vững.

Riêng đối với Dự án 6, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành kế hoạch thực hiện theo giai đoạn và hằng năm, bảo đảm bám sát mục tiêu, nội dung và tiến độ chung. Nội dung kế hoạch xây dựng có trọng tâm, trọng điểm, phân công rõ trách nhiệm của các đơn vị. Căn cứ vào đó, các địa phương chủ động xây dựng kế hoạch, bố trí nguồn lực, lồng ghép với các chương trình, dự án liên quan để triển khai các hoạt động bảo tồn, phục dựng lễ hội truyền thống; phát triển làng văn hóa; hỗ trợ nghệ nhân; củng cố thiết chế văn hóa cơ sở... Cách tiếp cận “bảo tồn gắn với phát triển” từng bước được cụ thể hóa thông qua việc hình thành và nhân rộng các mô hình du lịch văn hóa cộng đồng, góp phần tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân và tăng giá trị của di sản văn hóa trong đời sống đương đại.

3. Nhận diện các hạn chế về thể chế

Thực tiễn xây dựng thể chế, chính sách phát triển văn hóa dân tộc giai đoạn 2021-2025 còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, như: (i) Tiến độ giải ngân nguồn vốn, đặc biệt là vốn sự nghiệp tại một số địa phương còn chậm so với kế hoạch đề ra. Điều này phản ánh sự cứng nhắc trong các quy định tài chính hiện hành chưa thực sự phù hợp với đặc thù của vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. (ii) Một số mô hình bảo tồn văn hóa tại địa phương sau khi được hỗ trợ còn phụ thuộc vào nguồn ngân sách nhà nước, thiếu cơ chế duy trì và phát triển lâu dài. Gắn kết giữa bảo tồn văn hóa với phát triển sinh kế và thị trường ở một số nơi chưa rõ nét, dẫn đến hiệu quả khai thác còn hạn chế. (iii) Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa dân tộc còn chậm. Xây dựng cơ sở dữ liệu, số hóa các loại hình văn hóa dân tộc, ứng dụng công nghệ trong quản lý, bảo tồn và quảng bá văn hóa truyền thống mới ở mức khởi đầu, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. (iv) Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa dân tộc tại cơ sở hiện nay còn mỏng, chưa được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, chủ yếu là kiêm nhiệm, năng lực chuyên môn chưa đồng đều, ảnh hưởng nhất định đến chất lượng tham mưu, tổ chức triển khai và duy trì các hoạt động văn hóa dân tộc tại địa phương…

Những khó khăn, hạn chế trong công tác văn hóa dân tộc giai đoạn 2021-2025 xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, đan xen và tác động lẫn nhau trong quá trình tổ chức thực hiện.

Về nguyên nhân khách quan, Trước hết, do địa bàn triển khai chủ yếu là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, hạ tầng chưa đồng bộ, giao thông đi lại hạn chế đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức các hoạt động bảo tồn văn hóa dân tộc, triển khai các mô hình và tiếp cận nguồn lực đầu tư. Dưới tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa và giao lưu văn hóa, một số giá trị văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một, biến đổi nhanh, nhất là các loại hình di sản văn hóa phi vật thể, nghề thủ công truyền thống và tri thức tộc người. Sự thay đổi trong lối sống, sinh kế và nhu cầu của người dân cũng đặt ra nhiều thách thức đối với việc duy trì và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống hiện nay.

Về nguyên nhân chủ quan, hệ thống cơ chế, chính sách mặc dù đã từng bước được hoàn thiện nhưng trong quá trình thực hiện vẫn có thời điểm chưa thống nhất, phải điều chỉnh, bổ sung nhiều lần, ảnh hưởng đến tiến độ và tính ổn định của việc triển khai tại cơ sở. Năng lực tổ chức thực hiện ở một số địa phương còn hạn chế, nhất là ở cấp cơ sở. Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa dân tộc còn mỏng, chủ yếu kiêm nhiệm, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều, dẫn đến việc tham mưu, triển khai và quản lý các hoạt động văn hóa chưa đáp ứng yêu cầu…

Những nguyên nhân trên đặt ra yêu cầu cấp thiết cần xác định các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trong bối cảnh phát triển mới.

4. Tiếp tục đổi mới thể chế, chính sách về phát triển văn hóa

Lĩnh vực văn hóa đang đứng trước vận hội phát triển đột phá trong những năm tới khi Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Vai trò ngày càng nổi trội của văn hóa trong sự phát triển bền vững, văn hóa ngày càng thâm nhập sâu vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, tạo ra những giá trị vật chất mới và chính văn hóa đang trở thành một lĩnh vực kinh tế trọng yếu của nhiều quốc gia. Với xu hướng này, Việt Nam hội nhập với thế giới tạo ra cơ hội để thúc đẩy phát triển văn hóa hiện đại nhưng giàu bản sắc dân tộc” [3].

Từ đó, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Phát huy giá trị di sản văn hóa chính là khai thác sức mạnh nội sinh để phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng và bền vững”. Nghị quyết số 80 NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam cũng yêu cầu: “Chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số”[2].

Thể chế các quan điểm của Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phê duyệt Chương trình MTQG về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 2035, giai đoạn I từ 2025-2030, trong đó bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc là một trong 10 nội dung thành phần của Chương trình. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 417/QĐ-BNNMT ngày 31/01/2026 phê duyệt Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I từ 2026-2030; trong đó có Hợp phần thứ hai: Các nội dung đặc thù phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cũng đã đặt ra một số mục tiêu liên quan đến bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Để triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng, giai đoạn 2026-2031, đòi hỏi phải có những giải pháp đột phá, tập trung vào các nội dung cốt lõi:

Thứ nhất, thể chế hóa việc ưu tiên nguồn lực. Tại phiên bế mạc kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI (24/4/2026), Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển để thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ; có cơ chế, chính sách bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số, nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thống và bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm tập trung cho nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.

Về phía cơ quan quản lý nhà nước, cần tập trung xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện các nội dung liên quan đến văn hóa dân tộc thuộc Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035 (giai đoạn I: 2026-2030). Triển khai xây dựng các đề án trọng điểm, có tính chiến lược dài hạn như: Đề án “Bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với du lịch và phát triển kinh tế trong kỷ nguyên mới”; Đề án Tổ chức định kỳ các ngày hội, giao lưu văn hóa; Đề án Giáo dục trải nghiệm văn hóa trên nền tảng số; các đề án phát triển sản phẩm văn hóa và chuyển đổi số, tạo nền tảng cho phát triển bền vững lĩnh vực văn hóa dân tộc.

Thứ hai, đổi mới cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực trong các Chương trình MTQG. Các chính sách đầu tư cần ưu tiên hướng đến các loại hình di sản văn hóa đang có nguy cơ mai một cao và tập trung vào các địa bàn đặc biệt khó khăn. Có khung pháp lý quy định tỷ lệ trích lập từ nguồn thu du lịch để tái đầu tư vào các quỹ bảo vệ di sản của cộng đồng, giúp các mô hình bảo tồn văn hóa không bị phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn ngân sách nhà nước và nâng cao khả năng tự chủ của cộng đồng.

Thứ ba, đổi mới trong chính sách đãi ngộ nghệ nhân và phát huy vai trò chủ thể cộng đồng. Chính sách đãi ngộ, hỗ trợ trực tiếp bằng tài chính và chăm sóc y tế đối với nghệ nhân dân gian, già làng, trưởng bản và người có uy tín - những người nắm giữ và có vai trò quan trọng trong bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc. Ban hành các quy định pháp lý tạo không gian để chính những nghệ nhân nắm giữ tri thức dân gian, bí quyết nghề truyền thống tham gia vào hoạt động giáo dục, truyền dạy văn hóa. Xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng để cộng đồng trực tiếp thụ hưởng lợi ích kinh tế từ các mô hình văn hóa, du lịch cộng đồng sinh thái.

Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển kinh tế văn hóa. Cần có quy định pháp luật hướng dẫn việc ứng dụng công nghệ, số hóa tư liệu của các dân tộc, xây dựng cơ sở dữ liệu văn hóa thống nhất, liên thông từ cấp cơ sở đến cấp Trung ương. Ban hành cơ chế hỗ trợ phát triển các sản phẩm văn hóa đặc trưng như nghề thủ công, nghệ thuật dân gian, ẩm thực… gắn với quyền sở hữu trí tuệ, hỗ trợ xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ cả trong nước và quốc tế.

Thứ năm, tăng cường phân cấp quản lý và nâng cao năng lực thực thi tại địa phương. Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố cần chủ động ban hành các cơ chế đặc thù thuộc thẩm quyền, lồng ghép hiệu quả các nguồn lực hợp pháp để hiện thực hóa chủ trương của Đảng.

5. Kết luận

Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số không thể bền vững nếu thiếu đi một hệ thống thể chế và chính sách mang tính kiến tạo. Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội XIV và Nghị quyết số 80-NQ/TW, thể chế chính sách phát triển văn hóa dân tộc giai đoạn 2026-2031 cần được thiết kế để tạo ra những đột phá. Chìa khóa thành công nằm ở việc ưu tiên tối đa nguồn lực, coi cộng đồng là chủ thể trung tâm và đặt văn hóa truyền thống vào hệ sinh thái của phát triển kinh tế. Chỉ khi có được một hành lang pháp lý đồng bộ, sát thực tiễn, mới có thể hiện thực hóa mục tiêu vừa bảo vệ thành công các giá trị di sản có nguy cơ mai một, vừa khơi dậy nội lực, biến văn hóa dân tộc thành sức mạnh nội sinh góp phần tham gia phát triển bền vững của đất nước .

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (20250, Quyết định số 3399/QĐ-BVHTTDL ngày 23/9/2025 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035, giai đoạn I từ 2025-2030.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết số 80-NQ/ TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van hoa-Xa-hoi/Nghi-quyet-80-NQ-TW-2026-phat-trien-van hoa-Viet-Nam-689327.aspx

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.251.