Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Đảm bảo quyền sống cho người dân tộc thiểu số - Nghiên cứu từ một số chính sách của Nhà nước

Hoàng Thị Phương Liên - 20:45, 10/06/2026

(DTTG)-Tóm tắt: Quyền sống là quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của con người. Ở Việt Nam, bảo đảm quyền sống cho người dân tộc thiểu số luôn được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong chính sách dân tộc và chiến lược phát triển bền vững. Thông qua hệ thống chính sách hỗ trợ trên nhiều lĩnh vực như giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe, phát triển hạ tầng và an sinh xã hội, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số đã có nhiều cải thiện. Bài viết phân tích một số chính sách tiêu biểu của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền sống cho người dân tộc thiểu số; đánh giá những kết quả đạt được cũng như những khó khăn, thách thức còn tồn tại; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách trong thời gian tới.

Được tiếp cận với nước sạch là một trong những nhu cầu thiết yếu để đảm bảo quyền sống của đồng bào dân tộc thiểu số
Được tiếp cận với nước sạch là một trong những nhu cầu thiết yếu để đảm bảo quyền sống của đồng bào dân tộc thiểu số

Từ khóa: Quyền sống; Dân tộc thiểu số; Chính sách dân tộc.

1. Đặt vấn đề

Quyền sống là quyền cơ bản và quan trọng nhất trong hệ thống quyền con người. Đây là điều kiện tiên quyết để con người thực hiện các quyền khác. Ở Việt Nam, quyền sống được khẳng định trong Hiến pháp năm 2013, với quy định mọi người có quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe và được sống trong môi trường an toàn.

Ở Việt Nam, 53 dân tộc thiểu số (DTTS) có hơn 14,8 triệu người, chiếm 14,6% dân số cả nước. Đồng bào DTTS sinh sống chủ yếu ở vùng trung du, miền núi và biên giới - những khu vực có vị trí chiến lược về kinh tế, xã hội và quốc phòng, an ninh, nhưng cũng là địa bàn có điều kiện tự nhiên khó khăn, cơ sở hạ tầng còn hạn chế và trình độ phát triển chưa đồng đều.

Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành các chủ trương, chính sách nhằm cải thiện đời sống của đồng bào DTTS. Nghiên cứu và đánh giá hiệu quả của các chính sách hỗ trợ bảo đảm quyền sống cho người DTTS có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.

2. Cơ sở lý luận về bảo đảm quyền sống cho người dân tộc thiểu số

Hiến pháp 2013 hiện hành của Việt Nam đã dành Chương II quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trong Chương II có Điều 19: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”.

Quy định về quyền sống trong Hiến pháp 2013 là một quy định tiến bộ, khẳng định Việt Nam luôn thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các cam kết quốc tế về nhân quyền đối với Liên Hợp quốc, các Điều ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam là thành viên, trong đó có Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc. Tuy nhiên, nghiên cứu về chế định quyền sống trong Hiến pháp 2013 không nên hiểu quyền này theo nghĩa hẹp chỉ là sự toàn vẹn về tính mạng mà cần hiểu quyền này bao gồm được bảo đảm các nhu cầu cơ bản về lương thực, nước sạch, chăm sóc sức khỏe, nhà ở và môi trường sống an toàn, những điều kiện cần thiết để đảm bảo sự tồn tại của con người.

Đối với các cộng đồng DTTS, bảo đảm quyền sống có ý nghĩa đặc biệt, bởi đây là nhóm xã hội dễ bị tổn thương trước những biến động kinh tế - xã hội và thiên tai. Điều kiện địa lý khó khăn và khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội còn hạn chế khiến nhiều khu vực DTTS hiện vẫn đang đối mặt với nguy cơ nghèo đói và thiếu hụt các điều kiện sống cơ bản.

Thực hiện Hiến pháp 2013, nhiều chính sách quan trọng đã được Nhà nước ban hành nhằm đảm bảo quyền sống cho đồng bào DTTS, tiêu biểu như: Nghị quyết số 88/2019/QH14 của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS&MN giai đoạn 2021-2030; Nghị quyết số 120/2020/QH14 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS&MN; Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia nói trên. Chương trình này gồm 10 dự án thành phần, tập trung vào các lĩnh vực trọng yếu như phát triển sinh kế, giảm nghèo, hỗ trợ nhà ở, nước sinh hoạt, giáo dục, y tế và phát triển hạ tầng thiết yếu. Đây được xem là chương trình đầu tư có quy mô lớn nhất từ trước đến nay dành cho vùng DTTS&MN.

3. Thực tiễn bảo đảm quyền sống cho người dân tộc thiểu số thông qua các chính sách của Nhà nước

Thứ nhất, chính sách giảm nghèo và phát triển sinh kế: Giảm nghèo bền vững là một trong những nội dung quan trọng nhất trong việc bảo đảm quyền sống cho người DTTS. Những năm qua, Nhà nước đã triển khai nhiều chương trình nhằm hỗ trợ phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập cho người dân.

Theo kết quả điều tra 53 DTTS năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia trên phạm vi cả nước liên tục giảm, từ 6,46% năm 2020 xuống còn 4,06% năm 2024, giảm 8,3% so với năm 2019; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo DTTS còn 27,2%. Kết thúc năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn 1%, tỷ lệ hộ nghèo DTTS còn 11%. Một số dân tộc hầu như không còn hộ nghèo như dân tộc Brâu; dân tộc có tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo thấp nhất trong cả nước là Ngái (2,6%), Hoa (2,9%). Sự cải thiện này có được nhờ các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, tín dụng ưu đãi và đào tạo nghề dành cho đồng bào DTTS, nhất là đồng bào DTTS sinh sống ở vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn.

Thứ hai, chăm sóc sức khỏe là yếu tố quan trọng bảo đảm quyền sống. Các địa phương đã ưu tiên nguồn lực và tăng cường công tác y tế để đồng bào DTTS được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện đại; tiếp tục khống chế, tiến tới loại bỏ dịch bệnh ở vùng đồng bào DTTS&MN. Đến cuối năm 2025, đã có 88,76% đồng bào DTTS ở 31/34 tỉnh tham gia bảo hiểm y tế (3/34 tỉnh chưa có số liệu báo cáo), mục tiêu là 98%. 84,92% phụ nữ có thai được khám thai định kỳ (4/34 tỉnh chưa có số liệu báo cáo), mục tiêu là trên 80%. 92,79% phụ nữ sinh con ở cơ sở y tế hoặc có sự trợ giúp của cán bộ y tế (mục tiêu là trên 80%). Giảm còn 13,39% trẻ em suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (mục tiêu dưới 15%). Những kết quả này cho thấy các chính sách y tế và giảm nghèo đã góp phần quan trọng trong việc cải thiện sức khỏe cộng đồng, từ đó nâng cao tuổi thọ của người dân tính từ lúc sinh, một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa của quốc gia, vùng, địa phương hay dân tộc và là một trong những thành tố để tính chỉ số phát triển con người (HDI). Về chỉ số HDI, theo kết quả điều tra 53 DTTS năm 2024, tuổi thọ trung bình của 53 DTTS là 71,2 tuổi (tăng 0,5 năm so với năm 2019), trong đó nam là 68,5 tuổi và nữ là 74,2 tuổi.

Thứ ba, chính sách hỗ trợ nhà ở và hạ tầng thiết yếu là những yếu tố quan trọng bảo đảm chất lượng cuộc sống của người dân. Theo kết quả điều tra năm 2024, 99,7% hộ DTTS có nhà ở, trong đó 90,6% hộ DTTS sống trong các ngôi nhà kiên cố hoặc bán kiên cố, tăng 11,4% so với năm 2019. Diện tích nhà ở bình quân đầu người của các hộ DTTS là 19,4m2/người, tăng 2,5m2/ người so với 5 năm trước. Ngoài nội lực của đồng bào, Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2025 đã hỗ trợ làm nhà ở cho 42.567 hộ, là những nỗ lực của Nhà nước nhằm đảm bảo để người DTTS được quyền sống trong một ngôi nhà an toàn.

Bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng thiết yếu được Nhà nước đầu tư mạnh mẽ. Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN đã hỗ trợ đầu tư: 6.018 công trình giao thông nông thôn; 8.673 km đường giao thông được nhựa hóa, bê tông hóa hoặc cứng hóa; 442 công trình cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất, kinh doanh; cải tạo, sửa chữa 183 trạm y tế xã; hỗ trợ trang thiết bị 118 trạm y tế xã; 225 trạm y tế xã và 629 công trình trường, lớp học đạt chuẩn; hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 479.358 hộ; đầu tư xây dựng 809 công trình nước sinh hoạt tập trung, góp phần đưa tỷ lệ hộ DTTS sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh đạt 93,6%, tăng 5% so với năm 2019. 33/53 DTTS có tỷ lệ hộ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh đạt từ 90% trở lên. Những kết quả này đã tác động tích cực đến việc cải thiện điều kiện sống của đồng bào DTTS. Khi điều kiện sống của đồng bào DTTS được cải thiện, quyền sống không chỉ được bảo vệ ở mức tối thiểu mà còn được củng cố một cách bền vững. Thu nhập ổn định, tiếp cận tốt hơn với y tế, giáo dục và hạ tầng giúp người DTTS giảm rủi ro về sức khỏe, nghèo đói và bất ổn xã hội, qua đó tạo nền tảng vững chắc để quyền sống được bảo đảm lâu dài.

Trong đảm bảo quyền sống cho người DTTS, nhiều năm qua, mỗi khi xảy ra thiên tai, mất mùa, giáp hạt... Chính phủ luôn kịp thời xuất cấp gạo không thu tiền từ nguồn dự trữ quốc gia để người dân không bị thiếu lương thực. Ví dụ, năm 2025, Chính phủ và Bộ Tài chính đã xuất cấp không thu tiền 1.453,74 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho các tỉnh vùng đồng bào DTTS&MN là Lạng Sơn, Lai Châu, Điện Biên để cứu đói cho nhân dân dịp giáp hạt đầu năm. Tháng 10/2025, Bộ Tài chính quyết định xuất cấp 2.000 tấn gạo dự trữ quốc gia hỗ trợ người dân tỉnh Lạng Sơn khắc phục hậu quả bão số 11 và ổn định đời sống sau thiên tai. Trong các đợt mưa lũ lớn năm 2025, Cục Dự trữ Nhà nước đã triển khai xuất cấp hơn 7.730 tấn gạo dự trữ quốc gia cho các địa phương bị thiệt hại nặng như Gia Lai, Đắk Lắk... để kịp thời hỗ trợ người dân... Việc Nhà nước xuất cấp gạo không thu tiền từ nguồn dự trữ quốc gia để hỗ trợ người dân, trong đó có đồng bào DTTS trong thời kỳ giáp hạt, lúc thiên tai, mất mùa giúp người dân kịp thời vượt qua tình trạng thiếu đói trước mắt, ổn định đời sống và giảm thiểu những rủi ro về sức khỏe, sinh kế. Đồng thời, đây còn là biểu hiện cụ thể của trách nhiệm Nhà nước trong bảo đảm an sinh xã hội, không để người dân rơi vào tình trạng thiếu lương thực, qua đó góp phần củng cố nền tảng thực thi quyền sống một cách thiết thực và bền vững.

4. Một số giải pháp tiếp tục đảm bảo quyền sống cho người dân tộc thiểu số

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách dân tộc theo hướng đồng bộ và phù hợp với đặc thù của từng vùng. Hệ thống chính sách liên quan đến đồng bào DTTS cần được rà soát, điều chỉnh theo hướng thống nhất, tránh tình trạng chồng chéo giữa các chương trình, dự án. Đồng thời, việc xây dựng và triển khai chính sách cần bám sát đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa của từng vùng, từng dân tộc, bảo đảm tính khả thi và hiệu quả trong thực tiễn. Tăng cường phân cấp cho địa phương trong tổ chức thực hiện chính sách, gắn với cơ chế giám sát, đánh giá minh bạch nhằm bảo đảm các nguồn lực hỗ trợ thực sự đến đúng đối tượng, qua đó góp phần cải thiện điều kiện sống và bảo đảm quyền sống cho đồng bào.

Thứ hai, hạ tầng kinh tế - xã hội là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo cơ hội phát triển cho người dân. Vì vậy, cần ưu tiên nguồn lực để phát triển hệ thống giao thông, điện lưới, nước sạch, trường học, cơ sở y tế và hạ tầng thông tin ở các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Đầu tư hạ tầng không chỉ giúp người dân tiếp cận thuận lợi hơn với các dịch vụ xã hội cơ bản mà còn tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương, mở rộng thị trường và nâng cao khả năng kết nối giữa vùng đồng bào DTTS&MN với các trung tâm phát triển.

Thứ ba, để bảo đảm quyền sống ngày càng tốt hơn, cần chú trọng xây dựng các mô hình sinh kế bền vững phù hợp với điều kiện tự nhiên và đặc trưng văn hóa của từng cộng đồng dân tộc. Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hàng hóa, lâm nghiệp bền vững, du lịch cộng đồng, các nghề thủ công truyền thống và các sản phẩm đặc trưng địa phương sẽ góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân. Tăng cường hỗ trợ về vốn, khoa học kỹ thuật và đào tạo nghề để đồng bào DTTS có điều kiện phát huy hiệu quả tiềm năng sẵn có, qua đó cải thiện đời sống và giảm nghèo bền vững.

Thứ tư, sự tham gia tích cực của cộng đồng là yếu tố quan trọng bảo đảm tính bền vững của các chương trình phát triển. Do đó, cần tạo điều kiện để người DTTS tham gia vào quá trình xây dựng, triển khai và giám sát các chính sách liên quan đến đời sống của mình. Chú trọng phát huy các giá trị văn hóa, kinh nghiệm sản xuất và tri thức tộc người trong phát triển kinh tế - xã hội. Khi người dân trở thành chủ thể của quá trình phát triển, các chính sách hỗ trợ sẽ phát huy hiệu quả cao hơn, góp phần bảo đảm quyền sống không chỉ ở mức tối thiểu mà còn hướng tới sự phát triển toàn diện và bền vững của cộng đồng.

5. Thảo luận

Từ góc độ chính sách công, có thể thấy hệ thống chính sách dân tộc của Việt Nam đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền sống; góp phần nâng cao điều kiện sống của người dân và thu hẹp dần khoảng cách phát triển giữa các vùng. Trong đó, các chương trình giảm nghèo và phát triển sinh kế đã giúp cải thiện đáng kể điều kiện kinh tế của nhiều cộng đồng DTTS. Nhờ đó, tỷ lệ nghèo giảm nhanh và mức sống của người DTTS từng bước được nâng cao. Việc mở rộng hệ thống dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục và y tế đã giúp đồng bào DTTS tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ công thiết yếu. Đây là yếu tố quan trọng bảo đảm quyền sống theo nghĩa rộng, bao gồm quyền được giảm rủi ro về sức khỏe và cơ hội phát triển con người. Việc đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, điện lưới và nước sạch tạo nền tảng vững chắc để quyền sống được bảo đảm lâu dài.

Tuy nhiên, khoảng cách phát triển giữa vùng DTTS&MN và các vùng khác đang còn khá lớn; tỷ lệ nghèo ở một số địa phương miền núi vẫn ở mức cao; khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục ở vùng sâu, vùng xa còn hạn chế. Thực tế này cho thấy việc bảo đảm quyền sống cho người DTTS cần tiếp tục được quan tâm và đặt trong cách tiếp cận phát triển toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mở rộng hệ thống an sinh xã hội và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của người dân. Chỉ khi những điều kiện nền tảng này được cải thiện đồng bộ, quyền sống mới được bảo đảm một cách thực chất và bền vững.

6. Kết luận

Bảo đảm quyền sống cho đồng bào DTTS không chỉ là yêu cầu của phát triển xã hội mà còn là một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền và thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm ở Việt Nam. Thông qua hệ thống chính sách dân tộc ngày càng được hoàn thiện, cùng nhiều chương trình, dự án hỗ trợ trên các lĩnh vực giảm nghèo, phát triển hạ tầng, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và an sinh xã hội, điều kiện sống của đồng bào DTTS trong những năm gần đây đã có những chuyển biến tích cực, góp phần từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy vùng đồng bào DTTS&MN vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức, đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách theo hướng đồng bộ, phù hợp với đặc thù vùng miền, đồng thời nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, bảo đảm các nguồn lực hỗ trợ được triển khai kịp thời và đúng đối tượng. Chỉ khi các chính sách phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và cải thiện điều kiện sống được thực hiện một cách hiệu quả và bền vững, quyền sống của đồng bào DTTS mới được bảo đảm một cách tốt hơn, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển hài hòa, ổn định của đất nước

Tài liệu tham khảo

1. Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu quốc gia. Báo cáo tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025.

2. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), Báo cáo sơ kết tình hình, kết quả thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2045 (Báo cáo số 3286/BC-BDTTG ngày 31/12/2025).

3. Cục Thống kê - Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), Kết quả Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024. Nxb. Kinh tế - Tài chính.

4. Hằng Nga (2025), Bộ Tài chính xuất cấp khẩn 2.000 tấn gạo hỗ trợ người dân Lạng Sơn khắc phục hậu quả bão số 11, https://thuonghieucongluan.com.vn/bo-tai-chinh-xuat cap-khan-2-000-tan-gao-ho-tro-nguoi-dan-lang-son-khac-phuc-hau-qua-bao-so-11-a284912.html

5. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013).

6. Thủ tướng Chính phủ (2025), Quyết định số 693/QĐ TTg ngày 31/3/2025 về việc xuất cấp gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho các tỉnh dịp giáp hạt đầu năm 2025.

7. Trọng Nghĩa, Hà Anh (2025), Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực XII hoàn thành xuất cấp gần 8.000 tấn gạo và các thiết bị, vật tư hỗ trợ người dân vùng lũ, truy cập tại: https://tapchikinhtetaichinh.vn/hoan-thanh-xuat-cap-gan 8000-tan-gao-va-cac-thiet-bi-vat-tu-ho-tro-nguoi-dan vung-lu-130729.html