Việc tự do lựa chọn theo tôn giáo và bày tỏ đức tin là nguyện vọng chính đáng của con ngườiTừ khóa: Quyền con người; Quyền tự do tín ngưỡng; Tự do tôn giáo; Pháp luật Việt Nam; Đại đoàn kết dân tộc.
1. Các mô hình cơ bản của nhà nước trong việc thực thi quyền tự do tôn giáo
Với mô hình Thứ nhất, khi nhà nước có ý muốn kiểm soát tất cả các hành vi và các quyết định của các tổ chức tôn giáo, chắc chắn chính quyền sẽ vi phạm vào cam kết quyền tự do, tự chủ của tôn giáo. Việc đạt tới một cam kết chính trị trong đó mọi người được tự do lựa chọn theo tôn giáo, được tự do tuyên xưng, bày tỏ đức tin, được tự do thờ phụng và tạo lập tôn giáo là cả một quá trình cam go mà cộng đồng quốc tế phải “lên tiếng” và “can thiệp” sớm nhất để bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Thậm chí, quyền tự do tôn giáo còn được xem là một trong những quyền cơ bản nhất của con người. Bộ Luật Nhân quyền quốc tế ra đời, yêu cầu các quốc gia cam kết thực hiện đầy đủ và toàn vẹn quyền tự do tôn giáo. Tất cả người dân của đất nước được quyền tự do theo bất kỳ một tôn giáo nào dù tư tưởng của chúng có thể không nhất quán với trật tự thế tục và chuẩn mực đạo đức chung. Sau khi Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền được thông qua, quyền tự do tôn giáo trở thành một nguyên tắc chính trị mà ngay cả các quốc gia thực hiện chủ nghĩa vô thần cứng nhắc nhất cũng không thể phủ nhận, tạo nên sự thay đổi trong mối tương quan giữa nhóm cộng đồng tôn giáo với giới lãnh đạo quyền lực chính trị trong việc thực thi quyền tự do tôn giáo. Góp phần khắc phục và giải quyết những hạn chế ở mô hình thứ nhất.
Với mô hình thứ 2, khi các nhà lãnh đạo tôn giáo quyết định các chính sách dân sự, các quyết định chính trị phải dựa trên các cuộc tham vấn từ giới luật kinh điển tôn giáo và các nhà lãnh đạo tổ chức tôn giáo.
Với mô hình thứ 3, dung hòa mối quan hệ giáo hội và nhà nước trong thực thi quyền tự do tôn giáo. Với mô hình này, hệ thống phân cấp về chức năng xã hội của tôn giáo và nhà nước có thể bổ sung, thay thế cho nhau. Tôn giáo đóng vai trò đồng hành, hỗ trợ nhà nước duy trì trật tự xã hội. Các cộng đồng tôn giáo là các thực thể ổn định, có một mạng lưới giao tiếp hiệu quả và tin cậy trong cộng đồng đức tin của họ, nên các chính phủ thường sử dụng tôn giáo là đối tác hợp tác trong việc thực thi các chính sách của chính phủ như y tế, giáo dục, an sinh xã hội,…
Với mô hình thứ ba này, mọi mệnh lệnh là thuộc về luật pháp, quyền quyết định được thi hành là bởi các nhà lãnh đạo chính trị. Tôn giáo không còn ở vị trí kiểm soát quyền lực nhà nước (trừ trường hợp các quốc gia Islam giáo ở Trung Đông và Bắc Phi). Để bảo vệ quyền của tất cả các thành viên trong xã hội, một hệ thống lập pháp độc lập sẽ xem xét, xây dựng các quyết định chính trị hoàn toàn không lệ thuộc vào tôn giáo và giáo hội. Giáo hội và nhà nước là hai chủ thể độc lập, mỗi chủ thể có chương trình nghị sự, hệ thống, quyết định và lãnh đạo riêng. Những người lãnh đạo chính trị là người thực thi công lý theo Hiến pháp, chính quyền tương ứng đều có bản chất dân sự không có nghĩa vụ phụng sự tôn giáo. Quyền tự do tôn giáo, nhà nước không khước từ, nhưng quyền tự do đó không phải là vô hạn, nhà nước sẽ “từ chối” nó khi bất kỳ một cá nhân hay một tổ chức nào vì lý do tôn giáo mà không tuân thủ luật pháp chung, không tuân thủ những quyết định chính trị, uy hiếp đến an ninh trật tự xã hội, đến các quyền tự do của người khác, đến sự an toàn của cá nhân hay cộng đồng. Trong các trường hợp như vậy, nhà nước có quyền trừng phạt và tước bỏ quyền tự do tôn giáo của cá nhân hay tổ chức vi phạm. Mô hình thứ ba được coi là lý tưởng trong mối quan hệ giáo hội và nhà nước khi thực thi quyền tự do tôn giáo.
Sau khi Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền ra đời và được thông qua, Tuyên ngôn mang tính đạo đức và tập quán quốc tế nhiều hơn là tính pháp lý bắt buộc, nên ngay lập tức Tuyên ngôn phải được triển khai bằng các Công ước quốc tế về Quyền con người. Nhiều nước tham gia ký kết Công ước, một số nước có thái độ dè dặt với Công ước, một số nước không tham gia Công ước. Tính đến nay, đã có trên 160 quốc gia tham gia Công ước (trong đó có Việt Nam). Cu Ba, Malaysia, Mianma, Arab Saudi không tham gia Công ước. Dù tham gia hay không tham gia ký kết Công ước thì ứng xử của các quốc gia đối với quyền tự do tôn giáo của công dân đều có thể xem là một mô hình đặc trưng riêng biệt mà các quốc gia khác cần tôn trọng và khai thác sâu những ý tưởng và cam kết thực hiện quyền tự do tôn giáo ẩn sau các mô hình đó. Không nên lấy tiêu chí thực hiện quyền tự do tôn giáo của nước mình áp đặt và phán xét các quốc gia khác. Điều cốt yếu, một hệ thống chính trị cần xác định địa vị chính trị của tôn giáo trong tương quan với nhà nước một cách tối ưu nhất, phù hợp với truyền thống tôn giáo của quốc gia mình, có thể là: thần quyền tuyệt đối, tôn giáo nhà nước chính thống; tôn giáo chủ lưu được ưu tiên; phân tách tuyệt đối chính trị - tôn giáo; kiểm soát chặt chẽ tôn giáo;...
Trong các mô hình đó, nhà nước cần kiểm soát thái độ của mình, tránh sử dụng tôn giáo cho lợi ích chính trị, khi không đạt được mục đích thì có ý định cấm đoán, hạn chế tôn giáo hoặc thỏa hiệp tôn giáo đến mức tôn giáo lạm quyền thống trị. Các tổ chức tôn giáo cũng cần kiểm soát quyền lực của mình trong phạm vi tôn giáo, không xâm phạm các quyền tự do dân sự khác. Những hành vi tôn giáo vi phạm những điều khoản đạo đức, luân lý chung của xã hội, vi phạm trật tự thế tục cũng sẽ bị can thiệp và loại bỏ dần trong một xã hội dân chủ, văn minh, tiến bộ. Mối tương quan tôn giáo - chính trị trong thực thi quyền tự do tôn giáo cần hài hòa theo mô hình hợp tác, nhà nước không trao địa vị chính trị đặc biệt cho giáo hội nhưng nhà nước vẫn tiếp tục hợp tác chặt chẽ với tôn giáo theo nhiều cách khác nhau, thậm chí, nhà nước có thể cung cấp nguồn kinh phí đáng kể cho các hoạt động của tôn giáo. Tuy nhiên, mô hình hợp tác này, các chính phủ cần thận trọng trong vấn đề bình đẳng tôn giáo, đặc biệt với các quốc gia đa tôn giáo, đa văn hóa, đa dân tộc như Việt Nam và một số quốc gia khu vực và trên thế giới. Tôn giáo cũng cần “chung lưng đấu cật” chia sẻ quyền, bổn phận, trách nhiệm vì một mục tiêu chung là dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc, không lạm quyền tự do tôn giáo để xâm phạm các quyền tự do dân sự khác.
2. Liên hệ trường hợp Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi các tôn giáo ở phương Tây đang phải đối mặt với sự suy giảm ảnh hưởng và quyền lực đáng kể, lúc này, các quốc gia xã hội chủ nghĩa (đứng đầu là Liên Xô và Trung Quốc) đều có cùng một mục tiêu dài hạn và kiên định là xây dựng một nhà nước thế tục vô thần và theo đuổi các chính sách khác nhau đối với tôn giáo để đạt được mục tiêu đó. Thái độ, ứng xử và việc thực hiện quyền tự do tôn giáo của các quốc gia xã hội chủ nghĩa là khác nhau: có thể là cấm đoán, hạn chế quyền tự do tôn giáo, thỏa hiệp tôn giáo hay hỗ trợ tôn giáo. Song nhìn chung, những chính sách, biện pháp giải quyết vấn đề quyền tự do tôn giáo trong thời kỳ đầu cách mạng ở hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa là cứng nhắc, đôi khi là tả khuynh, trong khi nhà nước chưa thực sự nỗ lực cải tạo xã hội hiện thực để người dân không còn phải tìm đến tôn giáo như một “tiếng thở dài”, “một sự bất lực”, “một sự khốn cùng”, “một cứu cánh” cuối cùng của họ.
Quan điểm và chính sách tôn giáo của Việt Nam, thời kỳ đầu cũng chịu ảnh hưởng khá nặng nề bởi quan điểm tả khuynh về tôn giáo của Quốc tế Cộng sản, của nước Nga Xô Viết và của Trung Quốc thời “cách mạng văn hóa” (1966-1976). Tuy nhiên, Việt Nam vẫn có “lối đi” riêng trong phương cách ứng xử với quyền tự do tôn giáo của người dân. Ở Việt Nam, chưa lúc nào, người Cộng sản chủ trương chống tôn giáo hay đả kích nó.
Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam dù tuyên xưng theo chủ thuyết duy vật và vô thần, nhưng trong các văn bản pháp quy về tôn giáo vẫn ghi nhận những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của tôn giáo. Thậm chí khẳng định sự tồn tại lâu dài và tương đồng về lý tưởng của tôn giáo với chủ nghĩa xã hội. Từ trước cho đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn tin dùng những vị bộ trưởng là trí thức tôn giáo như: Nguyễn Mạnh Hà, Ngô Tử Hạ, Vũ Đình Tụng. Mời các chức sắc Công giáo như: Giám mục Lê Hữu Từ, Giám mục Hồ Ngọc Cẩn làm cố vấn tối cao cho Chính phủ (năm1945), Linh mục Phạm Bá Trực làm Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội (năm 1946), ông Cao Triều Phát (Chủ tịch Hội Cao Đài cứu quốc 12 phái hiệp nhất) làm Cố vấn Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ. Rất nhiều chức sắc các tôn giáo tham gia đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp qua các nhiệm kỳ, như: Hòa thượng Thích Chơn Thiện, Hòa thượng Thích Thạch Huôi, Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Hòa Thượng Thích Thanh Quyết, Thượng tọa Lý Đức, Thượng tọa Thích Đức Thiện, Linh mục Trần Mạnh Cường, Linh mục Lê Ngọc Hoàn, Linh mục Nguyễn Văn Riễn, Nguyễn Tấn Đạt (Phó Ban Trị sự Phật giáo Hòa Hảo), Trần Văn Huynh (Chánh phối sư, Chánh Hội trưởng Ban Cai quản Cao Đài Bạch Y),…
Từ sau năm 1986, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn kiện, nghị quyết về tôn giáo, Nghị quyết số 25/NQ-TƯ (năm 2003), Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo số 21/PL-UBTVQH (năm 2004), Nghị định số 22/NĐ-CP (năm 2005), Nghị định số 92/NĐ-CP (năm 2012), Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/QH14 (năm 2016), Nghị định số 162/NĐ-CP (năm 2017), Nghị định số 95/NĐ-CP (năm 2023) và gần đây nhất là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/ QH16 (năm 2026).
3. Thực thi quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam
Trong các văn kiện, nghị quyết nêu trên của Đảng và Nhà nước Việt Nam đều thể hiện việc bảo hộ quyền tự do tôn giáo, đi liền các nguyên tắc thực thi, nguyên tắc chống lạm quyền tự do tôn giáo để vi phạm pháp luật và vi phạm các quyền tự do dân sự khác, cụ thể như sau:
Một là, tôn giáo là một nhu cầu của con người, nhu cầu đó được quyền đáp ứng và được Hiến định, được bảo hộ bằng một hệ thống pháp luật.
Hai là, Nhà nước có trách nhiệm thực thi và bảo hộ quyền tự do tôn giáo trên nguyên tắc: Nhà nước pháp quyền - thế tục - trung lập, tức là, Nhà nước điều hành và quản lý xã hội bằng pháp luật (thượng tôn pháp luật), chính thống hoá nền chính trị, không thiết lập một tôn giáo nhà nước chính thống, không Hiến định hay luật hóa việc ủng hộ tôn giáo hay có những biện pháp chế tài đối với bất kỳ một tôn giáo nào hay tuyên truyền tiêu cực về tôn giáo. Nhà nước không can thiệp vào công việc nội bộ của tôn giáo, nhà nước không đầu tư ngân quỹ quốc gia cho sự phát triển của tôn giáo. Tôn giáo là việc riêng tư của xã hội dân sự, việc riêng của công dân. Tôn giáo không tham gia vào các cơ quan công quyền. Tôn giáo không xây dựng lực lượng vũ trang hay tổ chức chính trị đối lập. Những nguyên tắc, giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo được thừa nhận nhưng không bị ép buộc phải coi là khung giá trị tham chiếu chính thống chung cho toàn xã hội.
Ba là, quyền tự do tôn giáo không phải là vô hạn. Nhà nước có quyền can thiệp, giới hạn, điều chỉnh các hoạt động của tôn giáo và quyền tự do lập hội hay tự do tham gia vào các hoạt động xã hội. Lúc này, nhà nước giữ vai trò trung gian trong việc ngăn chặn tình trạng các tổ chức tôn giáo lạm quyền chính trị hay lạm quyền tự do tôn giáo để tranh giành ảnh hưởng và xâm phạm vào các quyền tự do dân sự khác của người dân (kể cả người có tôn giáo hay không tôn giáo). Nhà nước cũng sẽ tước đoạt quyền tự do tôn giáo khi bất kỳ một cá nhân hay một tổ chức nào vì lý do tôn giáo mà không tuân thủ luật pháp chung, không tuân thủ những quyết định chính trị, uy hiếp đến an ninh, trật tự xã hội, đến các quyền tự do của người khác, đến sự an toàn của cá nhân hay cộng đồng.
Bốn là, quyền tự do tôn giáo và các quyền dân sự khác là độc lập. Nhà nước không tước đoạt quyền tham gia các hoạt động xã hội (trong giới hạn mà luật pháp ấn định) của tôn giáo như hoạt động kinh tế, hoạt động y tế, giáo dục, từ thiện và an sinh xã hội, nhưng các hoạt động đó phải tuân thủ theo Hiến pháp và pháp luật (có liên quan) và không nhằm gây tranh giành, ảnh hưởng chính trị - xã hội.
4. Kết luận
Việc tự do lựa chọn theo tôn giáo và bày tỏ đức tin là nguyện vọng chính đáng của con người. Có thể coi đó là một trong những quyền cơ bản của mọi người. Quyền tự do đó phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để người dân không phải “nổi dậy” yêu cầu nhà nước thực thi quyền vốn được coi là tất yếu đó. Tuy nhiên, điều tối quan trọng là phải xác định một quan niệm chung về tự do tôn giáo và giới hạn quyền tự do đó để cả tổ chức tôn giáo và nhà nước thực hiện trọn vẹn và đầy đủ quyền tự do tôn giáo đúng nghĩa, ngăn chặn lạm quyền tự do để gây bất ổn xã hội và uy hiếp an ninh chính trị, an toàn trật tự xã hội và tước đoạt các quyền tự do dân sự khác
* Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Luật Nhân quyền quốc tế bao gồm: Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966; Tuyên bố của Liên Hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức không khoan dung và phân biệt đối xử dựa trên cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo 1981.
2. Hoàng Minh Đô, Đỗ Lan Hiền, Quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về tôn giáo - những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Lý luận Chính trị, H.2015, tr.46.
3. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh toàn tập, t.5, Nxb. Chính trị Quốc gia. H.2011, tr.53.
4. W. Cole Durham and Brett G.Scharffs, Luật pháp và tôn giáo, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2016, tr.115.