Phụ nữ Mông luôn có ý thức bảo tồn nghề truyền thống của dân tộcTừ khóa: Chính sách dân tộc; Dân tộc thiểu số; miền núi; Chương trình MTQG 1719; Giảm nghèo; Phát triển bền vững.
1. Một số kết quả thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 2021-2025
Nghị quyết số 24-NQ/TW khẳng định: Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng nước ta. Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng ta đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc, với những nội dung cơ bản là: “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”.
Thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, Nhà nước ban hành các chính sách dân tộc nhằm phát triển kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng… đối với đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS). Các nhóm chính sách dân tộc khung được quy định tại Nghị định 05/NĐ-CP ngày 14/01/2011 về công tác dân tộc – Văn bản pháp lý cao nhất về công tác dân tộc hiện nay, gồm: Chính sách đầu tư và sử dụng nguồn lực, Chính sách đầu tư phát triển bền vững, Chính sách phát triển giáo dục và đào tạo, Chính sách cán bộ người dân tộc thiểu số, Chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa, Chính sách phát triển thể dục, thể thao vùng dân tộc thiểu số, Chính sách phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số, Chính sách y tế, dân số, Chính sách thông tin truyền thông, Chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý, Chính sách bảo vệ môi trường, sinh thái, Chính sách quốc phòng, an ninh.
Giai đoạn 2021-2025, việc thực hiện chính sách dân tộc được đặt trong sự cụ thể hóa nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Nghị quyết xác định trọng tâm là hoàn thiện và tổ chức thực hiện hiệu quả hệ thống chính sách dân tộc, triển khai đồng bộ các chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG), trong đó có Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) giai đoạn 2021-2030 (Chương trình MTQG 1719). Trong Chương trình MTQG 1719, chính sách dân tộc thể hiện trong 10 dự án, 14 tiểu dự án, nội dung thành phần nhằm giảm nghèo, bảo đảm sinh kế bền vững, định canh, định cư; bảo vệ và phát triển các DTTS rất ít người, bảo tồn văn hóa, thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao đời sống đồng bào, đảm bảo “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Qua đó giải quyết hài hòa quan hệ dân tộc và tạo điều kiện để các dân tộc cùng phát triển bền vững.
Tóm tắt kết quả thực hiện giai đoạn 2021-2025 thể hiện theo các nhóm chính sách dân tộc phân loại theo lĩnh vực như sau:
(i). Chính sách đầu tư và sử dụng nguồn lực: kinh phí thực hiện các chính sách dân tộc được bố trí từ nguồn ngân sách nhà nước, theo quy định về phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành và các nguồn kinh phí hợp pháp khác để phát triển toàn diện kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số; trong đó dự kiến tổng mức vốn để thực hiện Chương trình MTQG 1719 giai đoạn 2021-2025 là 137.664,959 tỷ đồng (104.954,011 tỷ đồng vốn ngân sách trung ương; ngân sách địa phương là 10.016,721 tỷ đồng; vốn vay tín dụng là 19.727,020 tỷ đồng; vốn huy động khác là 2.967,207 tỷ đồng).
Nguồn lực này được sử dụng để thực hiện chính sách đầu tư phát triển bền vững, đó là: Giải quyết các nhu cầu thiết yếu về đất ở, nhà ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt: đã hỗ trợ 10.549 hộ đất ở, 42.567 hộ nhà ở, 13.387 hộ đất sản xuất, 54.999 hộ chuyển đổi nghề, hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 479.358 hộ và xây dựng 809 công trình nước sinh hoạt tập trung. Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát đã xây mới, sửa chữa 334.234 căn nhà... Sắp xếp bố trí ổn định dân cư cho 25.056 hộ. Triển khai hỗ trợ đầu tư: 6.018 công trình giao thông nông thôn phục vụ sản xuất, kinh doanh và dân sinh; 8.673km đường giao thông được nhựa hóa, bê tông hoá hoặc cứng hóa; 442 công trình cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thôn, bản; 90 trạm chuyển tiếp phát thanh xã; 1.787 nhà sinh hoạt cộng đồng; cải tạo, sửa chữa 183 trạm y tế xã; hỗ trợ trang thiết bị 118 trạm y tế xã; 225 trạm y tế xã và 629 công trình trường, lớp học đạt chuẩn; cải tạo, xây mới 986 công trình thủy lợi nhỏ; đầu tư 666 công trình hạ tầng quy mô nhỏ khác do cộng đồng đề xuất; thực hiện duy tu, bảo dưỡng 5.484 công trình cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã, thôn đặc biệt khó khăn…
(ii). Chính sách giáo dục và đào tạo: Hệ thống giáo dục vùng DTTS&MN tiếp tục được mở rộng, chất lượng được cải thiện; tỷ lệ huy động trẻ trên 5 tuổi đạt trên 95%, tiểu học gần 99%, THCS trên 96%, THPT trên 75%, tỷ lệ biết chữ trên 93%; 100% học sinh dân tộc rất ít người có nhu cầu được bố trí học tập phù hợp. Đào tạo nghề đã triển khai 2.354 mô hình, hỗ trợ đào tạo cho 238.958 lao động DTTS...
(iii). Chính sách cán bộ người DTTS: Công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng cán bộ người DTTS được duy trì, góp phần tăng cường nguồn nhân lực tại chỗ. Chính sách cử tuyển tiếp tục được thực hiện; 53/53 dân tộc đều có người được tuyển sinh theo chế độ cử tuyển...
(iv). Chính sách y tế, chăm sóc sức khỏe: Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và bảo hiểm y tế của đồng bào được cải thiện rõ rệt; tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 93,8%, trên 95% phụ nữ sinh con được chăm sóc tại cơ sở y tế, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em giảm còn khoảng 13,3%...
(v). Chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa đạt nhiều kết quả cụ thể, gắn bảo tồn với phát huy giá trị di sản. Giai đoạn 2021-2025, đã bảo tồn 124 lễ hội truyền thống, hỗ trợ 695 câu lạc bộ văn hóa dân gian, 5.760 đội văn nghệ truyền thống, xây dựng 69 điểm du lịch truyền thống và đầu tư 3.220 nhà văn hóa - khu thể thao…
(vi). Chính sách phát triển thể dục, thể thao: Các hoạt động thể thao dân tộc, trò chơi dân gian và phong trào thể dục, thể thao cơ sở tiếp tục được duy trì, góp phần nâng cao đời sống tinh thần và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. 94% thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng và trên 61% thôn có đội văn hóa hoạt động thường xuyên...
(vii). Chính sách phát triển du lịch: Du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa và du lịch gắn với cảnh quan, sinh thái từng bước trở thành một hướng phát triển kinh tế ở vùng DTTS&MN; đã xây dựng, hỗ trợ 69 điểm du lịch truyền thống, tạo thêm không gian phát huy văn hóa và phát triển sinh kế tại cộng đồng…
(viii). Chính sách thông tin - truyền thông: Hạ tầng và khả năng tiếp cận thông tin của đồng bào được mở rộng đáng kể. 97% đồng bào được xem truyền hình, 98,3% nghe đài; chương trình viễn thông công ích đã hỗ trợ dịch vụ viễn thông di động cho khoảng 1,5 triệu hộ, với kinh phí 664,3 tỷ đồng...
(ix). Chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý: Công tác tiếp cận pháp luật được tăng cường, nhất là đối với nhóm yếu thế. Các Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước đã tham gia tố tụng 73.522 vụ việc cho người DTTS trong giai đoạn 2017-2025; cả nước hiện có 137.331 hòa giải viên là người DTTS, chiếm 25% tổng số hòa giải viên…
(x). Chính sách quốc phòng, an ninh: Chính sách được triển khai gắn với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh Nhân dân; lực lượng chức năng chú trọng phát huy vai trò người có uy tín trong nắm tình hình, giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp và giữ gìn an ninh, trật tự tại vùng DTTS&MN…
(xi). Chính sách bảo vệ môi trường, sinh thái được triển khai gắn với bảo vệ rừng, sử dụng bền vững tài nguyên và phát huy tri thức địa phương trong khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ rừng. Nhờ đó, nhận thức về bảo vệ môi trường, giữ gìn hệ sinh thái ở vùng DTTS từng bước được nâng lên, cải thiện môi trường sống và bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân.
(xii). Chính sách đối với người có uy tín được triển khai đồng bộ, ngày càng đi vào chiều sâu và phát huy hiệu quả rõ nét. Đã tổ chức 1.694 hội nghị, hội thảo, tọa đàm, giao lưu, tham quan học tập kinh nghiệm với 69.535 lượt người tham gia; cung cấp trên 2,44 triệu ấn phẩm tuyên truyền; biểu dương, khen thưởng 10.215 cá nhân tiêu biểu.
(xiii). Nhóm chính sách khác
Đối với các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn đã xây dựng 266 công trình giao thông dài 1.630 km, 12 trạm biến áp, 37 công trình thủy lợi, 16 công trình chống sạt lở, 45 công trình văn hóa - giáo dục; hỗ trợ sinh kế cho 5.732 hộ; tổ chức 212 lớp tập huấn với 9.612 lượt người; triển khai 306 mô hình liên kết sản xuất. Đồng thời bảo tồn 280 đội văn nghệ, phục dựng 40 lễ hội và bảo tồn 162 yếu tố văn hóa truyền thống…
Trong lĩnh vực bình đẳng giới và hỗ trợ phụ nữ, trẻ em đã thành lập 10.411 tổ truyền thông cộng đồng; 2.312 địa chỉ tin cậy; 2.026 câu lạc bộ “Thủ lĩnh của sự thay đổi”… góp phần thay đổi nhận thức, từng bước xóa bỏ định kiến giới, nâng cao vai trò và quyền năng của phụ nữ DTTS.
Trong lĩnh vực giảm thiểu tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống: đã tổ chức 10.736 hoạt động truyền thông; 2.351 hội thi, 932 lớp bồi dưỡng với hơn 721 nghìn lượt người tham gia; nhân rộng 1.989 mô hình can thiệp, góp phần hạ tỷ lệ tảo hôn xuống còn 14,55%; hôn nhân cận huyết giảm từ 6,5‰ xuống còn 3,7‰, nhiều địa phương, dân tộc đã xóa bỏ tình trạng này.
Những thành tựu trong thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 2021-2025 đã góp phần để kinh tế vùng đồng bào DTTS&MN duy trì tăng tưởng khá, nhiều khu vực đạt cao hơn mức bình quân chung cả nước: vùng Tây Bắc trên 8%/năm, Tây Nguyên khoảng 7,5%/năm, Tây Nam Bộ trên 7%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm bình quân 1,03%/năm, riêng vùng DTTS giảm 3,4%/năm; thu nhập bình quân đạt 43,4 triệu đồng/người/ năm, tăng 3,1 lần so với năm 2020; cải thiện kết cấu hạ tầng; từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS; bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; củng cố hệ thống chính trị cơ sở; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và tăng cường thế trận lòng dân gắn với quốc phòng, an ninh.
Đặc biệt là hệ thống chính sách dân tộc thể hiện trong Chương trình MTQG 1719 đã “khuyến khích được tinh thần tự lực, tự cường, không trông chờ, ỷ lại của đồng bào DTTS; đã làm thay đổi đáng kể diện mạo và đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS và khu vực miền núi”[5]
2. Chính sách dân tộc giai đoạn 2026-2030
Giai đoạn 2021-2025, xu hướng chính sách dân tộc đã chuyển sang “tăng cường vai trò điều phối, dẫn dắt của cơ quan làm công tác dân tộc ở Trung ương, thể hiện qua việc giao nhiệm vụ chủ trì, tham mưu, tổ chức thực hiện và giám sát Chương trình MTQG 1719”[6]; đồng thời tiếp cận tích hợp và gắn kết với Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững nhằm tối ưu hóa nguồn lực, nâng cao hiệu quả chính sách; đề cao việc trao quyền, nâng cao năng lực, sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng và thực hiện; chuyển từ hỗ trợ thụ động sang tự phát triển và chủ động hội nhập, gắn với mục tiêu phát triển bền vững và giảm nghèo đa chiều, sinh kế lâu dài, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường và tài nguyên. Sự đổi mới này đã đặt nền tảng thể chế cho giai đoạn 2026-2030, chính sách dân tộc tiếp tục chuyển từ tư duy hỗ trợ ngắn hạn sang định hướng phát triển bền vững, phát huy nội lực và nâng cao năng lực tự chủ của đồng bào DTTS, trong bối cảnh yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững ngày càng rõ nét.
Trong giai đoạn phát triển mới, Đảng và Nhà nước nhất quán xác định nông nghiệp, nông dân, nông thôn; giảm nghèo bền vững; phát triển KT XH vùng đồng bào DTTS&MN là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, vừa là nền tảng ổn định xã hội, vừa là trụ đỡ cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Để phát triển toàn diện vùng đồng bào DTTS&MN, đòi hỏi cần bố trí nguồn lực để thúc đẩy sự phát triển, huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý có hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
Trên quan điểm đó, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026 - 2035 làm căn cứ để Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 417/ QĐ-BNNMT ngày 31/01/2026 phê duyệt Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030 nhằm tập trung nguồn lực, giải quyết những vấn đề lớn, liên ngành, liên vùng, có ý nghĩa trực tiếp đối với phát triển KT XH, bảo đảm an sinh xã hội, phát triển con người, củng cố quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống Nhân dân; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, giải ngân và trách nhiệm phối hợp, giảm văn bản chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn, giảm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi cho cấp cơ sở trong tổ chức thực hiện.
Tuy nhiên, bước sang giai đoạn 2026-2030, Quốc hội cũng đã quyết định chủ trương đầu tư một số chương trình mới theo ngành, lĩnh vực, gồm: phát triển văn hóa; hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển; phòng chống ma túy. Mỗi chương trình vẫn cần ban hành nhiều văn bản để phê duyệt nội dung, nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ, hướng dẫn chuyên môn, quản lý chi thường xuyên và theo dõi, đánh giá. Nếu không đổi mới căn bản cách quản lý thì hạn chế của giai đoạn trước sẽ có nguy cơ lặp lại.
Vì vậy, tại kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất (tháng 8/2026), Quốc hội đã biểu quyết phê duyệt Chương trình MTQG phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 20262035 trên cơ sở hợp nhất Chương trình MTQG về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035, Chương trình MTQG hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035, Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026-2035 và Chương trình MTQG về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035.
Ngày 12/10/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 387/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035. Theo đó, Nhà nước tiếp tục thực hiện chính sách ưu tiên hỗ trợ nguồn lực để thực hiện các nội dung đầu tư, hỗ trợ: quy hoạch, phát triển hạ tầng thiết yếu, nâng cao chất lượng nông thôn; thực hiện chuẩn nghèo đa chiều, phát triển kinh tế nông thôn, sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, việc làm và nâng cao thu nhập; hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo và nguồn nhân lực; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển; bảo tồn và phát triển văn hóa cho các đối tượng, địa bàn tại vùng đồng bào DTTS&MN theo tiêu chí phân định vùng, mức độ khó khăn và khoảng cách phát triển; tập trung ưu tiên xã, thôn đặc biệt khó khăn, DTTS rất ít người, dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù và nhóm đối tượng có nguy cơ tụt hậu.
Như vậy, Chương trình tích hợp vẫn đảm bảo tính bao trùm, nhân văn, thể hiện sự ưu tiên đầu tư, hỗ trợ cho vùng đồng bào DTTS&MN.
3. Kết luận
Sinh thời, trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ miền núi, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Chính sách của Đảng và Chính phủ ta đối với miền núi là rất đúng đắn. Trong chính sách đó có hai điều quan trọng nhất là: Đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào”[4].
Giai đoạn 2021-2025 ghi nhận những kết quả rõ nét trong thực hiện chính sách dân tộc, góp phần cải thiện đời sống, giảm nghèo, phát triển hạ tầng, nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, bảo tồn văn hóa và củng cố quốc phòng, an ninh ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục hoàn thiện chính sách giai đoạn 2026-2030 theo hướng tập trung nguồn lực, phát triển bền vững, phát huy nội lực và nâng cao năng lực tự chủ của đồng bào.
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, t.15, Hà Nội 2013.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, tập I, tr. 395-396.
3. Chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc, Nxb Văn hoá dân tộc H,2000, tr. 127.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, tr 608.
5. GS.TS. Trần Trung (chủ biên), (2026), Công tác dân tộc trước kỷ nguyên mới, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 20.