Từ khóa: Giáo dục dân tộc; Học sinh dân tộc thiểu số; Chính sách.
1. Chính sách ưu tiên đối với người học (trẻ em, học sinh)
Thứ nhất, chính sách ưu tiên trẻ em, học sinh vùng đồng bào DTTS&MN
Chính sách này được quy định tại Nghị định số 66/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025 của Chính phủ. Nghị định số 66/NĐ-CP mở rộng đối tượng trẻ, học sinh (HS) được thụ hưởng chính sách và được chi trả theo năm học. Cụ thể: Trẻ em nhà trẻ được hỗ trợ 360.000 đồng/trẻ/tháng; Tiền để mua đồ dùng, học liệu học tập, đồ dùng cá nhân cho trẻ em nhà trẻ bán trú là 1.350.000 đồng/trẻ em/năm học. Học sinh bán trú và học viên bán trú hưởng tiền ăn 936.000 đồng/tháng; 15 kg gạo/HS/tháng; Tiền nhà ở (nếu không bố trí được chỗ ở cho học sinh) 360.000 đồng/HS/tháng. Học sinh dân tộc nội trú và học sinh dự bị đại học, ngoài các chế độ được ăn, ở tại trường còn được tiền khen thưởng nếu đạt danh hiệu “Học sinh xuất sắc” 800.000 đồng/HS; Học sinh giỏi 600.000 đồng/HS; Được trang bị, cấp phát đồ dùng cá nhân và học phẩm 1.080.000 đồng/HS.
Chính sách miễn giảm học phí được quy định tại Nghị định 81/2021/NĐ-CP, ngày 27/8/2021 của Chính phủ. Mới đây, trong phiên họp ngày 28/02/2025, Bộ Chính trị quyết định miễn toàn bộ học phí cho học sinh từ mầm non đến hết trung học phổ thông công lập trên phạm vi cả nước, bắt đầu từ năm học 2025-2026. Miễn học phí là bước đi chiến lược nhằm hiện thực hóa công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách vùng miền và phát triển nguồn nhân lực bền vững. Đây là một chính sách rất kịp thời, có tính nhân văn cao.
Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 188/2025/NĐ-CP ngày 18/02/2025, quy định việc Nhà nước hỗ trợ tối thiểu 50% mức đóng bảo hiểm y tế cho học sinh, sinh viên, thay vì 30% như trước, giúp giảm gánh nặng tài chính cho các gia đình, đặc biệt là các gia đình ở vùng đồng bào DTTS&MN, đồng thời đảm bảo học sinh, sinh viên là người DTTS được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn.
Chính sách giáo dục của nước ta bảo đảm cơ hội và công bằng cho trẻ em, học sinh người DTTSThứ hai, chính sách đối với các trường chuyên biệt
Các trường chuyên biệt vùng đồng bào DTTS&MN gồm: Trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT), phổ thông dân tộc bán trú (PTDTBT) và phổ thông có học sinh bán trú. Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã ban hành các Thông tư về quy chế tổ chức và hoạt động của trường PTDTBT, PTDTNT, tạo hành lang pháp lý rõ ràng, cụ thể để các trường hoạt động hiệu quả. Một số trường, đặc biệt là trường PTDTNT có cơ sở vật chất tốt, hiện đại, đồng bộ về trang thiết bị dạy và học, các phòng chức năng, nhà công vụ giáo viên, nhà ở học sinh và các công trình phụ trợ. Nhờ có các chính sách đặc thù, chất lượng giáo dục ở các trường PTDTBT, trường PTDTNT có nhiều chuyển biến tích cực.
Ngoài các chính sách trên, Nhà nước còn có chính sách dạy và học tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số. Hiện nay, đang thực hiện giảng dạy 08 thứ tiếng DTTS: Ba na, Chăm, Ê-đê, Gia-rai, Khmer, Mông, Mnông, Thái trong các cơ sở giáo dục, giúp học sinh DTTS tiếp thu tri thức bằng ngôn ngữ mẹ đẻ dễ dàng hơn. Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, năm học 2022-2023, cả nước có 535 trường dạy tiếng DTTS, với 4.176 lớp học và 117.699 HS. Tiếng Chăm, Gia-rai, Ba na, Thái dạy ở cấp tiểu học; tiếng Ê-đê, Mông được thực hiện ở cấp tiểu học và THCS; Tiếng Khmer được triển khai dạy học ở cả 3 cấp học tiểu học, THCS, THPT.
Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1008/QĐ-TTg ngày 02/6/2016 ban hành Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025”. Việc dạy tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non và tiểu học DTTS góp phần quan trọng nâng cao năng lực tiếng Việt để các em có thể giao tiếp tốt hơn, tự tin hơn, học các môn học khác dễ dàng hơn, hiểu bài hơn, tiếp thu kiến thức nhanh hơn, tạo tiền đề cho các cấp học tiếp theo; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục bền vững ở vùng đồng bào DTTS&MN.
2. Tác động của các chính sách giáo dục dân tộc
Các chính sách ưu tiên phát triển giáo dục vùng đồng bào DTTS&MN đem lại nhiều kết quả quan trọng. Về số lượng, đến tháng 5/2024, tổng số trẻ em người dân tộc thiểu số đến trường mầm non là 820.156 trẻ, chiếm 16% tổng số trẻ đến trường trên toàn quốc[1]. Số học sinh tiểu học, THCS, THPT người DTTS tính đến năm học 2023-2024 là 3.108.396. Trong đó, tỷ lệ trẻ em đi học đúng độ tuổi cấp tiểu học đạt 96,3%; cấp THCS đạt 86,6%; cấp THPT đạt 51,1% (Kết quả Điều tra 53 DTTS lần thứ III năm 2024, Bộ Dân tộc và Tôn giáo), tăng 5% cấp THCS và 4,1% cấp THPT so với lần điều tra trước. Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên rõ rệt, giảm số học sinh bỏ học, củng cố, duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực ở vùng đồng bào DTTS&MN (Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, 2025).
Chính sách giáo dục dân tộc cũng đem lại nhiều tác động, xét ở góc độ lý luận:
Thứ nhất, góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách giáo dục quốc gia
Các chính sách ưu tiên phát triển giáo dục vùng đồng bào DTTS&MN là một bộ phận không tách rời của chính sách giáo dục quốc gia, được ban hành từ nhiều cấp: Quốc hội, Chính phủ, Bộ GD&ĐT, Ủy ban nhân dân/Sở GD&ĐT các địa phương…); Trong nhiều loại văn bản: Luật, nghị quyết, nghị định, thông tư, quyết định, công văn chỉ đạo/hướng dẫn, kế hoạch…; Dành cho nhiều đối tượng: Trẻ em, học sinh, sinh viên, cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên…; Nhiều cấp học: Mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông (THCS, THPT)…; Nhiều lĩnh vực trong và ngoài nhà trường: Dạy và học, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, trường PTDTNT, PTDTBT…; Nhiều nội dung giáo dục: Chương trình giáo dục mầm non, chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục bảo tồn văn hóa, hướng nghiệp, kỹ năng sống… và nhiều nội dung khác: bảo hiểm y tế, ăn, ở bán trú… Sự đa dạng trong chính sách và kịp thời trong ban hành, tổ chức thực hiện cho thấy sự quan tâm, ưu tiên của Đảng, Nhà nước đối với sự phát triển giáo dục vùng đồng bào DTTS&MN. Bên cạnh các chính sách giáo dục nói chung, vùng đồng bào DTTS&MN còn được hưởng các chế độ ưu tiên, góp phần giảm thiểu khó khăn cho “vùng trũng” về giáo dục, tạo điều kiện để học sinh đến trường đầy đủ, hạn chế tình trạng bỏ học, nâng cao tỷ lệ duy trì và chuyển lớp, thu hẹp khoảng cách về cơ hội tiếp cận giáo dục với các vùng thuận lợi.
Thứ hai, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN
Từ yêu cầu bảo đảm quyền học tập cho học sinh dân tộc thiểu số (DTTS), Nhà nước đã xây dựng nhiều chính sách đặc thù ưu tiên phát triển giáo dục vùng đồng bào DTTS&MN. Những chính sách này đặt ra yêu cầu Nhà nước, Bộ GD&ĐT phải điều chỉnh cơ chế phân bổ ngân sách, ưu tiên nguồn lực đầu tư, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN. Từ các chính sách này, ngày càng nhiều học sinh DTTS được học lên trình độ cao hơn, cung cấp lực lượng lao động có kỹ năng, nguồn nhân lực có chất lượng cho địa phương. Đưa tiếng dân tộc và văn hóa dân tộc vào trường học không chỉ nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc mà còn tạo nguồn nhân lực biết khai thác di sản văn hóa phục vụ cho mục tiêu phát triển. Chương trình tăng cường tiếng Việt cho trẻ em, học sinh DTTS giúp các em học tập tốt hơn, tự tin giao tiếp và tăng cơ hội có việc làm sau khi ra trường.
Thứ ba, nâng cao chất lượng giáo dục vùng đồng bào DTTS&MN
Các chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ sách giáo khoa, chi phí ăn ở, phát triển hệ thống trường chuyên biệt giúp tăng tỷ lệ đi học, duy trì sĩ số học sinh và nâng cao chất lượng học tập. Đưa tiếng dân tộc và nội dung văn hóa địa phương vào chương trình học cùng các chương trình tăng cường tiếng Việt ở bậc tiểu học đã giúp học sinh khắc phục rào cản, nâng cao kỹ năng ngôn ngữ và năng lực học tập ở các môn học và các hoạt động giáo dục khác. Chính sách đầu tư cơ sở vật chất giúp các trường PTDTNT, PTDTBT khang trang hơn, đảm bảo các điều kiện tổ chức dạy - học và sinh hoạt. Nhờ đó, giáo dục vùng đồng bào DTTS&MN không chỉ đảm bảo phổ cập mà còn từng bước nâng cao chất lượng, thu hẹp khoảng cách với mặt bằng chung của cả nước.
Thứ tư, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho trẻ em, học sinh vùng DTTS&MN
Các chính sách giáo dục dân tộc đã mở rộng đáng kể cơ hội tiếp cận giáo dục cho trẻ em, học sinh vùng đồng bào DTTS&MN thông qua việc xóa bỏ rào cản kinh tế, địa lý và ngôn ngữ. Chính sách dạy và học tiếng nói, chữ viết DTTS, miễn, giảm học phí; Hỗ trợ chi phí ăn, ở, đi lại; Cấp phát gạo, nước sạch; Phát triển trường PTDTNT, PTDTBT, khám sức khỏe… đã giảm bớt gánh nặng tài chính, tạo điều kiện giúp nhiều trẻ em ở vùng đồng bào DTTS&MN được đến trường, duy trì việc học, làm tăng tỷ lệ nhập học và hoàn thành chương trình ở các địa phương. Ngành Giáo dục còn mở rộng đào tạo liên cấp THCS, THPT ở các trường PTDTNT, bán trú ở các địa phương có nhu cầu. Việc đầu tư hạ tầng giao thông, xây dựng trường lớp, nâng cao nhận thức cho cha mẹ học sinh, bố trí giáo viên cắm bản đã rút ngắn khoảng cách tới trường, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho trẻ em, học sinh vùng đồng bào DTTS&MN, là một bước tiến quan trọng trong thực hiện nguyên tắc bình đẳng về cơ hội học tập - một nguyên lý cốt lõi của chính sách giáo dục quốc gia.
Thứ năm, tạo bình đẳng trong giáo dục
Các chính sách ưu tiên phát triển giáo dục vùng đồng bào DTTS&MN góp phần quan trọng tạo lập bình đẳng trong giáo dục, bảo đảm mọi trẻ em, bất kể thành phần dân tộc hay nơi cư trú, đều có cơ hội học tập ngang bằng. Thông qua các chính sách miễn, giảm học phí; Hỗ trợ chi phí học tập; cấp học bổng; đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin… học sinh vùng vùng đồng bào DTTS&MN được hưởng điều kiện học tập tương tự học sinh ở đô thị, vùng thuận lợi. Việc đưa tiếng DTTS và văn hóa bản địa vào chương trình giảng dạy, triển khai các chương trình tăng cường tiếng Việt giúp học sinh khắc phục rào cản ngôn ngữ - một yếu tố then chốt trong bảo đảm cơ hội học tập bình đẳng. Thực tiễn cho thấy, khoảng cách về tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi và tỷ lệ hoàn thành bậc học giữa vùng đồng bào DTTS&MN với mức trung bình cả nước đang từng bước thu hẹp đã khẳng định vai trò của chính sách giáo dục dân tộc trong hiện thực hóa mục tiêu công bằng trong giáo dục.
3. Một số kiến nghị
Chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang đặt ra nhiệm vụ mới và cấp thiết cho giáo dục vùng đồng bào DTTS&MN. Để phát huy vai trò của chính sách giáo dục dân tộc trong xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước, cần quan tâm một số vấn đề sau:
Một là, tiến hành rà soát nhằm tránh chồng chéo chính sách giáo dục vùng đồng bào DTTS&MN. Điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung kịp thời hoặc ban hành chính sách đối với học sinh DTTS các trường PTDTBT, PTDTNT phù hợp với điều kiện, tình hình mới.
Hai là, tập trung nguồn lực và tăng cường đầu tư xây dựng trường, lớp vùng đồng bào DTTS&MN. Đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện Thông báo số 81-TB/TW ngày 18/7/2025 của Bộ Chính trị về chủ trương đầu tư xây dựng trường học cho các xã biên giới. Hoàn thiện các quy định liên quan theo hướng bảo đảm học sinh ở xã biên giới đất liền được hưởng chính sách nội trú, bán trú phù hợp với thực tiễn địa phương; bảo đảm ngân sách duy trì hoạt động của các trường…
Ba là, đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển giáo dục vùng đồng bào DTTS&MN để đồng bào hiểu được tầm quan trọng của giáo dục trong sự phát triển chung về KT-XH; Huy động nhiều hơn sự tham gia, đóng góp của cộng đồng cho giáo dục địa phương.
Bốn là, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và đẩy mạnh chuyển đổi số trong thực hiện chính sách giáo dục đối với vùng đồng bào DTTS&MN. Chuyển đổi số giúp khắc phục rào cản về hạ tầng giao thông, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, mở rộng cơ hội học tập phù hợp với trình độ, ngôn ngữ và bản sắc văn hóa của học sinh. Việc số hóa nội dung gắn với tri thức địa phương vừa góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, vừa bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Thực hiện tốt chuyển đổi số sẽ tạo nền tảng vững chắc để thu hẹp khoảng cách, bảo đảm công bằng và phát triển giáo dục bền vững tại vùng đồng bào DTTS&MN.
4. Kết luận
Giáo dục và đào tạo vùng đồng bào DTTS được Đảng, Nhà nước xác định là nhiệm vụ trọng tâm để phát triển con người; Là giải pháp chiến lược thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Chính sách giáo dục đang góp phần bảo đảm công bằng, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh ở vùng đồng bào DTTS&MN - một địa bàn quan trọng của Tổ quốc.
Tài liệu tham khảo
1. Chính phủ, Nghị định số 66/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025 quy định chính sách cho trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo và cơ sở giáo dục có trẻ em nhà trẻ, học sinh hưởng chính sách.
2. Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Công bằng và Hòa nhập, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Thực trạng và giải pháp thực hiện các chính sách ưu tiên phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước, 2025.