Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân tộc thiểu số - Từ chính sách đến thực tiễn

ThS. Trần Hồng Quỳnh - 01:47, 28/04/2026

(DTTG) -Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của công dân, được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam ghi nhận, là điều kiện quan trọng để người dân thực hiện các quyền khác và tham gia vào đời sống chính trị - xã hội của quốc gia. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, quyền này càng có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh điều kiện kinh tế - xã hội, hạ tầng thông tin và trình độ tiếp cận không đồng đều. Bài viết phân tích khuôn khổ chính sách, pháp luật về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân tộc thiểu số; đánh giá kết quả thực tiễn triển khai trong thời gian qua để thấy rõ những nỗ lực của Việt Nam, nhất là của Bộ Dân tộc và Tôn giáo trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho người dân tộc thiểu số một cách thực chất, hiệu quả.

Phụ nữ người Hà Nhì tìm hiểu thông tin trên mạng Internet
Phụ nữ người Hà Nhì tìm hiểu thông tin trên mạng Internet

Từ khóa: Quyền tiếp cận thông tin; Dân tộc thiểu số; Chính sách dân tộc; Bộ Dân tộc và Tôn giáo.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, quyền tiếp cận thông tin đã được quy định trong Hiến pháp 2013, gắn liền với nguyên tắc công khai, minh bạch trong quản lý nhà nước và sự tham gia của người dân vào đời sống xã hội. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), quyền tiếp cận thông tin không dừng lại ở “được biết”, mà là điều kiện cần thiết để hiểu đúng, hiểu đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; từ đó chủ động tham gia, giám sát và thụ hưởng các chính sách dân tộc. Tuy nhiên, khoảng cách tiếp cận thông tin giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) và các khu vực khác đang còn hiện hữu, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và đa dạng các phương thức truyền thông, yêu cầu bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người DTTS đặt ra những vấn đề mới, đòi hỏi cách tiếp cận phù hợp, thực chất hơn. Vì vậy, nghiên cứu quyền bảo đảm tiếp cận thông tin của người DTTS từ góc độ chính sách và thực tiễn thực hiện có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.

2. Cơ sở lý luận và chính sách về quyền tiếp cận thông tin của người dân tộc thiểu số

Điều 25 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, Khoản 3, Điều 2 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 giải thích: “Tiếp cận thông tin là việc đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin”. Tại Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin nhấn mạnh 5 nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin: (1) Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin. (2) Thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ. (3) Việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân; đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. (4) Việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin phải do luật định trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. (5) Việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức hoặc của người khác. (6) Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin.

Ở Việt Nam, quyền tiếp cận thông tin của công dân còn được quy định tại nhiều văn bản pháp luật liên quan đến báo chí, xuất bản, công nghệ thông tin và truyền thông cơ sở. Đối với người DTTS, quyền này được lồng ghép trong các chính sách dân tộc.

3. Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân tộc thiểu số

Thứ nhất, về phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin: Bộ Dân tộc và Tôn giáo chịu trách nhiệm quản lý nhà nước, đồng thời có trách nhiệm cung cấp, công khai thông tin liên quan đến công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, như: thông tin tuyên truyền về chủ trương, chính sách dân tộc, các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; soạn thảo, ban hành và phổ biến các văn bản quy định về công khai, minh bạch thông tin; tiếp nhận, phân loại và xử lý các yêu cầu cung cấp thông tin của công dân; trả lời đúng thời hạn đối với phần lớn yêu cầu của các đơn thư…

Các thông tin này được bố trí niêm yết công khai; thực hiện công khai thông tin định kỳ và đột xuất trên bảng tin tại trụ sở và qua hệ thống thông tin điện tử, Cổng Thông tin Điện tử của Bộ.

Thứ hai, nhằm hỗ trợ công dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin, 7 năm qua, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã triển khai thực hiện 60 dự án công nghệ thông tin; tổ chức 81 hội nghị, hội thảo về chuyển đổi số; xây dựng 933 điểm hỗ trợ đồng bào DTTS ứng dụng công nghệ thông tin để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) và đảm bảo an ninh trật tự; tổ chức 248 lớp tập huấn, hướng dẫn quản lý sử dụng thiết bị, duy trì, vận hành điểm ứng dụng công nghệ thông tin với 6.060 lượt người tham gia; tiếp hàng chục lượt công dân có nhu cầu tìm hiểu thông tin về pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo và công tác dân tộc. Sau khi được hướng dẫn, tiếp cận các thông tin, tài liệu, hầu hết các công dân đều hài lòng.

Thứ ba, về công khai thông tin, Bộ Dân tộc và Tôn giáo công khai tất cả các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính có giá trị áp dụng chung; thông tin phổ biến, hướng dẫn thực hiện pháp luật, chế độ, chính sách đối với lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của cơ quan nhà nước. Cụ thể: (1) Các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính; điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là một bên liên quan đến lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo. (2) Thông tin về nhiệm vụ, quyền hạn của công chức trực tiếp giải quyết công việc tiếp công dân; Báo cáo công tác định kỳ. (3) Thông tin thống kê về ngành, lĩnh vực quản lý; cơ sở dữ liệu quốc gia ngành, lĩnh vực. (4) Báo cáo tài chính năm; thông tin về sử dụng, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, mức lương công chức, viên chức, người lao động. (5) Công khai các chương trình, dự án, đề án, kế hoạch của Bộ; danh mục, quy trình thực hiện thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo trên Cổng Thông tin Điện tử và tại trụ sở. (6) Danh mục thông tin phải được công khai theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin và thông tin khác phải được công khai theo quy định của pháp luật. (7) Công khai thông tin về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan và đơn vị; nội quy, quy chế của Bộ; thông tin thống kê về ngành, lĩnh vực quản lý dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo; nội dung và kết quả trưng cầu ý dân, tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền mà đưa ra lấy ý kiến nhân dân theo quy định của pháp luật; các kết luận kiểm tra; thông tin về tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức, viên chức; thủ tục hành chính, quy trình giải quyết công việc của cơ quan nhà nước; tên, địa chỉ, số điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử của cơ quan, đơn vị trên Cổng thông tin điện tử của Bộ.

Các thông tin được công khai trên Cổng Thông tin Điện tử của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ; thông qua tiếp công dân, các cuộc họp, hội nghị, các hoạt động tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật; niêm yết tại trụ sở làm việc. Thời điểm công khai thông tin đối với từng lĩnh vực nhìn chung đã được các cơ quan, đơn vị thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Thứ tư, về cung cấp thông tin theo yêu cầu, Bộ Dân tộc và Tôn giáo thực hiện đúng quy định của pháp luật về cung cấp thông tin theo yêu cầu của công dân; không thực hiện cung cấp thông tin đối với thông tin công dân không được tiếp cận theo quy định tại Điều 6 của Luật Tiếp cận thông tin; thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật đối với thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện theo quy định tại Điều 7 của Luật Tiếp cận thông tin. Tiếp nhận và xử lý các yêu cầu liên quan đến lĩnh vực tuyên truyền, thông tin đối ngoại, công tác dân tộc qua văn bản yêu cầu của công dân và hệ thống tiếp nhận trực tuyến trên Cổng Thông tin Điện tử Bộ.

Hình thức yêu cầu, cung cấp thông tin chủ yếu trực tiếp tại trụ sở làm việc hoặc qua mạng điện tử, dịch vụ bưu chính, fax, hòm thư điện tử. Các yêu cầu cung cấp thông tin đều được trả lời kịp thời không để xảy ra tình trạng chậm, muộn. Việc kiểm tra và bảo đảm tính bí mật của thông tin trước khi cung cấp được thực hiện đúng theo các quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, không để xảy ra tình trạng lộ, mất bí mật nhà nước hoặc cung cấp thông tin thuộc bí mật nhà nước cho cơ quan, tổ chức, cá nhân không có thẩm quyền.

Thứ năm, về các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã bố trí cán bộ đầu mối, nguồn nhân lực bảo đảm phục vụ công tác tiếp cận thông tin. Cổng thông tin điện tử của Bộ được duy trì, vận hành với đầy đủ các thông tin theo quy định của Luật. Tăng cường cung cấp thông tin lên trục liên thông văn bản quốc gia và trên Cổng thông tin điện tử Bộ đã tạo điều kiện thuận lợi để người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Bộ đã bố trí phòng tiếp công dân theo quy định của Luật Tiếp công dân, đảm bảo đủ, đúng yêu cầu theo quy định của trụ sở tiếp công dân. Lãnh đạo Bộ định kỳ hàng tháng đều có lịch tiếp công dân, công chức làm công tác thường trực tiếp công dân có đủ năng lực, chuyên môn để tiếp cận, giải đáp thắc mắc, kiến nghị của công dân.

Thứ sáu, đối với Danh mục thông tin phải được công khai theo Điều 17 Luật Tiếp cận thông tin, Bộ Dân tộc và Tôn giáo thường xuyên cập nhật, đăng tải kịp thời, đầy đủ trên Cổng thông tin điện tử để thuận lợi cho công dân tiếp cận. Thường xuyên mở những hội nghị tuyên truyền, phổ biến pháp luật; tổ chức gặp gỡ; chủ động thăm hỏi các chức sắc, chức việc các tổ chức tôn giáo, người đại diện các cơ sở tín ngưỡng, người có uy tín. Qua đó cung cấp các thông tin về chủ trương, chính sách, đường lối, pháp luật của Đảng và Nhà nước.

Thứ bảy, Bộ Dân tộc và Tôn giáo phối hợp với các cơ quan báo chí, truyền thông để đưa tin chính thống, kịp thời, tránh tình trạng sai lệch, bảo đảm công dân được tiếp cận thông tin chuẩn xác, công khai, minh bạch.

4. Phát triển hệ thống thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số

Những năm qua, hệ thống thông tin phục vụ đồng bào DTTS đã có những bước phát triển đáng kể. Báo chí, phát thanh, truyền hình, đặc biệt là truyền thông cơ sở, đóng vai trò chủ đạo chuyển tải thông tin chính sách, pháp luật đến người dân. Hiện nay, tỷ lệ đồng bào DTTS được xem truyền hình đạt 94,19%; nghe đài phát thanh đạt 98,21% (thống kê tại 32/34 tỉnh, thành phố trong cả nước). Nhiều chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc được duy trì, góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông.

Giai đoạn 2021-2025, Đài Truyền hình Việt Nam đã sản xuất, phát sóng 27 chương trình truyền hình tiếng dân tộc, gồm các ngôn ngữ: Mông, Thái, Dao, Mường, Sán Chí, Ê-đê, Gia Rai, Ba Na, Xê Đăng, Giẻ Triêng, Raglai, Cơ-ho, Xtiêng, Chăm, Khmer, Pa Cô-Vân Kiều, Cơ-tu, Cao Lan (dân tộc Sán Chay), Hà Nhì, Hrê, Chu Ru, Chơ Ro, Mnông, Tày, Hoa, Ca Dong, Co, Mạ và tiếng Việt. Chương trình truyền hình tiếng dân tộc được phát sóng 24 giờ/ngày trên kênh VTV5, VTV5 Tây Nam Bộ, VTV5 Tây Nguyên và VTV5 Tây Bắc.

Giai đoạn 2026-2030, Đài Truyền hình Việt Nam sẽ sản xuất, phát sóng 29 ngôn ngữ dân tộc (tăng 2 ngôn ngữ Co, Mạ so với giai đoạn 2021 2025); sản xuất các chương trình truyền hình tiếng dân tộc đăng tải trên các nền tảng số: YouTube, Facebook, Instagram, TikTok,... nhằm cung cấp thêm các phương thức nghe, xem truyền hình để đồng bào dễ dàng tiếp cận thông tin.

Đối với hệ phát thanh, Đài Tiếng nói Việt Nam đang phát sóng 13 thứ tiếng DTTS: Mông, Thái, Dao, Ê-đê, Ba na, Gia-rai, Cơ-ho, Mnông, Xê Đăng, Chăm, Khmer, Cơ-tu và tiếng Tày-Nùng với thời lượng phát sóng hơn 30 giờ hàng ngày. Riêng tiếng Khmer được tổ chức thành một kênh chuyên biệt để phục vụ đồng bào Khmer Nam bộ, với thời lượng phát sóng 12 giờ mỗi ngày. Diện tích phủ sóng phát thanh tiếng dân tộc của Đài Tiếng nói Việt Nam đã đạt 60% diện tích cả nước và 78% dân số nghe được chương trình phát thanh bằng tiếng DTTS.

Bằng nguồn vốn của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn I (2021-2025), các cấp, các ngành đã biên soạn, cung cấp trên 2,4 triệu ấn phẩm tuyên truyền, truyền thông đáp ứng nhu cầu thông tin của đồng bào DTTS. Xây dựng, phát hành gần 1,1 triệu các loại ấn phẩm phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền, vận động đồng bào DTTS; nói chuyện chuyên đề với 501.523 lượt người tham gia; cung cấp 61.782 ấn phẩm báo, tạp chí; phát hành 40.971 sản phẩm thông tin đối ngoại vùng đồng bào DTTS&MN... Các kênh truyền thông chủ lực quốc gia và các chương trình, đề án của Nhà nước về thông tin, truyền thông cho đồng bào DTTS đã góp phần bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân ngày càng đầy đủ, kịp thời và bình đẳng. Qua đó thu hẹp khoảng cách thông tin giữa vùng đồng bào DTTS&MN với khu vực phát triển, tạo điều kiện để đồng bào hiểu đúng, làm được và tham gia giám sát thực hiện chính sách dân tộc, từ đó nâng cao năng lực làm chủ và vị thế trong quá trình phát triển.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người DTTS vẫn còn một số hạn chế. Nội dung và hình thức truyền tải thông tin ở nhiều nơi chưa thực sự phù hợp với trình độ, ngôn ngữ và điều kiện tiếp nhận của người dân. Hạ tầng thông tin, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới còn thiếu và chưa đồng bộ. Khoảng cách số ngày càng trở thành rào cản mới, khi không phải người dân nào cũng có khả năng tiếp cận và sử dụng các nền tảng thông tin hiện đại. Ngoài ra, phương thức truyền thông ở một số địa bàn vẫn mang tính một chiều, nặng về phổ biến, thiếu đối thoại và tương tác, chưa phát huy đầy đủ vai trò chủ thể của người dân trong tiếp cận và phản hồi thông tin.

5. Kết luận

Quyền tiếp cận thông tin của người DTTS đã được xác lập rõ ràng trong pháp luật Việt Nam và đạt được nhiều kết quả tích cực trong thực tiễn. Việc người DTTS được tiếp cận đầy đủ các nguồn thông tin sẽ giúp đồng bào chủ động hơn trong quá trình tham gia các hoạt động của xã hội và đóng góp, xây dựng, phát triển đất nước. Do đó, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người DTTS không chỉ là yêu cầu pháp lý, mà còn là điều kiện quan trọng để thực hiện công bằng xã hội, tăng cường niềm tin của đồng bào và thúc đẩy phát triển bền vững. Điều này đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, lâu dài của cả hệ thống chính trị, với cách tiếp cận thực chất, linh hoạt và phù hợp với điều kiện cụ thể của từng cộng đồng dân tộc .

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), Báo cáo số 3286/ BC-BDTTG ngày 31/12/2025 sơ kết tình hình, kết quả thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2045.

2. Chiến Khu (2023), 30 năm tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số đã được lan tỏa theo làn sóng phát thanh quốc gia, truy cập tại: https://www.bienphong.com.vn/30-nam-tieng noi-chu-viet-cua-dong-bao-dan-toc-thieu-so-da duoc-lan-toa-theo-lan-song-phat-thanh-quoc-gia post469085.html

3. Chính phủ (2025), Báo cáo số 901/BC-BDTTG ngày 10/10/2025 tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I từ 2021-2025.

4. Chính phủ (2025), Quyết định số 2370/QĐ-TTg ngày 27/10/2025 về việc phê duyệt mục tiêu, nhiệm vụ tăng cường năng lực sản xuất chương trình truyền hình tiếng dân tộc giai đoạn 2026 - 2030.

5. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

6. Quốc hội (2016), Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.