Trang phục truyền thống tại Lễ hội “Mừng cơm mới” của người dân tộc Lự, tỉnh Lai ChâuTừ khóa: Trang phục truyền thống; Dân tộc thiểu số; Lễ hội; Bản sắc văn hóa dân tộc.
1. Mối liên hệ mật thiết giữa trang phục truyền thống và lễ hội
Việt Nam là quốc gia thống nhất, đa dân tộc, với 53 dân tộc thiểu số (DTTS) và trang phục là một trong những dấu hiệu quan trọng để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Với sự đa dạng trang phục truyền thống của 53 DTTS thì “trang phục của các DTTS góp phần tạo nên giá trị văn hóa quốc gia Việt Nam giàu bản sắc, đa dạng trong thống nhất” [5].
Tùy theo điều kiện tự nhiên, cảnh quan, môi trường và xã hội, mỗi dân tộc lựa chọn, hình thành các nguyên liệu, chất liệu, quy trình, cách thức dệt, nhuộm, may, thêu, trang trí, cấu trúc hình dáng và màu sắc cho các bộ trang phục truyền thống theo những giá trị, bản sắc riêng của mình. Thông qua trang phục truyền thống, các DTTS không chỉ thể hiện “gu” thẩm mỹ, mà còn phản ánh nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo, nhân sinh quan, thế giới quan, thậm chí là cả cội nguồn hình thành, phát triển của dân tộc.
Trong quá trình tồn tại, các DTTS đã sản xuất ra các bộ trang phục phù hợp với các mục đích sử dụng khác nhau: trang phục trong lao động sản xuất, trang phục trong lễ hội, đám cưới, tang ma; Trang phục dành cho thầy cúng, thầy mo khi thực hành nghi lễ, trang phục của người già, trẻ em... Trang phục của các dân tộc khác nhau có sự khác biệt, thậm chí giữa các nhóm trong cùng một dân tộc cũng khác nhau. Chính vì sự phong phú, đa dạng, giàu sắc thái biểu cảm nên trang phục là một trong những giá trị tiêu biểu góp phần tạo nên bản sắc văn hóa của các DTTS ở Việt Nam.
Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, “cả nước hiện có 8.868 lễ hội, trong đó có tới 8.103 lễ hội truyền thống, cho thấy đại đa số lễ hội ở nước ta là lễ hội truyền thống” [1]. Mặc dù trang phục và lễ hội là hai thành tố văn hóa khác nhau nhưng lại có mối liên hệ mật thiết với nhau. Lễ hội là môi trường để trang phục thể hiện, còn trang phục góp phần tạo màu sắc đặc trưng cho lễ hội. Do vậy, “lễ hội là môi trường tốt để bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống, trong đó có trang phục của đồng bào DTTS” [9].
Không gian lễ hội được xem như môi trường đặc thù, nơi các yếu tố cốt lõi của đời sống văn hóa truyền thống các DTTS như: Trang phục, nghi lễ, tín ngưỡng, âm nhạc, ẩm thực, luật tục, quan hệ cộng đồng… được bộc lộ đầy đủ, có tính biểu tượng cao, dễ quan sát và có khả năng phản ánh rõ nét bản sắc tộc người nhất. Ở nhiều cộng đồng DTTS, trang phục truyền thống giữ vai trò đặc biệt trong lễ hội, thể hiện qua sự phong phú của kỹ thuật chế tác và hệ thống biểu tượng gắn với nghi lễ, tín ngưỡng và cấu trúc xã hội.
Một vài ví dụ cho tính biểu tượng trên trang phục truyền thống như tại lễ hội Lồng Tồng của người Tày, Nùng ở vùng Trung du, miền núi phía Bắc, người phụ nữ Tày nổi bật với áo năm thân đậm đà màu chàm xanh như ẩn mình trong không gian xanh thẳm của núi rừng. Với người Mông, lễ hội Gầu Tào là dịp phụ nữ cả bản diện váy áo lanh thêu hoa văn truyền thống. Họa tiết trên trang phục chủ yếu mô phỏng thiên nhiên (hoa lá, cỏ cây) và tín ngưỡng dân gian (hình thoi, xoắn ốc, chữ vạn, mặt trời) với màu sắc rực rỡ (đỏ, vàng, xanh, trắng) thể hiện bản sắc riêng biệt của từng nhóm Mông Hoa, Mông Đen, Mông Trắng. “Bộ yếm váy của phụ nữ người Mông Hoa ở Bắc Hà (Lào Cai) có 2 băng rải dọc thêu nhiều hoa văn. Theo các nghệ nhân giải thích đó là biểu tượng của 2 dòng sông mà khi vào Việt Nam người Mông phải vượt qua. Hoặc trang phục của người Hà Nhì Đen (ở Bát Xát - Lào Cai, Phong Thổ - Lai Châu), màu chàm đen là màu chủ đạo, đều có sự tích giải thích về màu sắc che chở cho người Hà Nhì ở trong rừng để thoát khỏi sự săn lùng [4].
Trong cộng đồng người Thái, lễ hội Xên Bản - Xên Mường không chỉ là dịp cầu cho mùa màng bội thu mà còn là thời điểm phụ nữ khoe sắc qua váy áo truyền thống. Khăn piêu, áo cóm, thắt lưng và trang sức bạc tạo nên sắc thái văn hóa đặc thù của người phụ nữ Thái. Màu sắc chủ đạo trên chiếc khăn piêu gồm màu xanh của núi rừng, màu vàng của lúa chín, màu đỏ, trắng của hoa cỏ, thể hiện tình yêu và sự gắn bó với quê hương, bản làng. Những cút piêu - nút vải cuộn tròn như ngọn rau dớn, thường có màu đỏ mang ý nghĩa xua đuổi tà ma. Các họa tiết được thêu đối xứng ở hai đầu khăn, lặp lại mô típ hoa lá, chim muông, biểu trưng cho thế giới tự nhiên và sự sinh sôi. Khăn piêu còn là tín vật tình yêu chứa đựng những triết lý nhân sinh gắn với tình cảm đôi lứa chân thành, thủy chung... Các dân tộc Ba-na, Xơ-Đăng, Cơ-tu, Brâu ở Tây Nguyên… đều có trang phục ngắn, gọn, phù hợp với phương thức sản xuất hái lượm trong môi trường rừng rậm và khí hậu nóng ẩm ở nơi cư trú…
2. Vai trò của trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số trong không gian lễ hội
Trang phục truyền thống được sử dụng trong các dịp lễ hội luôn là trang phục đẹp nhất, được chuẩn bị công phu nhất, bởi lễ hội là sự kiện quan trọng của cả cộng đồng. Đặc biệt, trong không gian thiêng và thực hành phần nghi lễ tại các lễ hội thì trang phục truyền thống còn là yếu tố bắt buộc. Tại không gian lễ hội, trang phục truyền thống của các DTTS thể hiện rõ nhiều vai trò ở các góc độ khác nhau.
Người Dao ở Thái Nguyên bảo tồn, lưu giữ trang phục truyền thốngThứ nhất, trang phục truyền thống là phương tiện nhận diện và khẳng định bản sắc tộc người
Trong lễ hội, trang phục truyền thống là dấu hiệu trực quan, rõ ràng và tức thời nhất để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Chỉ cần nhìn vào kiểu dáng áo váy, cách phối màu, hoa văn và phụ kiện đi kèm, người trong và ngoài cộng đồng đều có thể nhận diện tộc người, thậm chí nhận diện nhóm địa phương, dòng họ hay vùng cư trú. Với sự đa dạng của trang phục các dân tộc, khi tham gia lễ hội, nhất là những lễ hội có sự góp mặt của nhiều dân tộc thì qua bộ trang phục truyền thống còn biết được chủ thể của lễ hội đó.
Khác với đời sống thường ngày, nơi trang phục có thể bị giản lược hoặc thay thế bởi y phục hiện đại, lễ hội là thời điểm cộng đồng chủ động lựa chọn bộ trang phục truyền thống đầy đủ nhất, chuẩn mực nhất. Mặc đúng trong lễ hội không đơn thuần là thẩm mỹ mà là hành vi văn hóa có ý thức, thể hiện sự tôn trọng Tổ tiên, tôn trọng cộng đồng và tôn trọng chính bản sắc văn hóa của dân tộc mình.
Thứ hai, trang phục truyền thống là hệ thống biểu tượng văn hóa, tín ngưỡng được mã hóa
Trang phục truyền thống trong lễ hội không chỉ để “nhìn” mà còn để “đọc”. Mỗi hoa văn, màu sắc, chất liệu đều mang theo những lớp ý nghĩa liên quan đến thế giới quan, nhân sinh quan và tín ngưỡng của cộng đồng. Nhiều DTTS không có chữ viết hoặc chữ viết không phổ biến thì trang phục truyền thống trở thành một hình thức lưu giữ tri thức bằng hình ảnh và biểu tượng.
Trong không gian lễ hội, thời điểm giao hòa giữa con người, đất trời và thần linh, các biểu tượng trên trang phục truyền thống càng phát huy ý nghĩa. Màu chàm gắn với đất và sự bền bỉ; Màu đỏ biểu trưng cho sinh sôi, may mắn; Các họa tiết hình cây, dòng nước, mặt trời… phản ánh chu trình của tự nhiên và ước vọng mùa màng thuận lợi. Mặc trang phục truyền thống trong lễ hội vì thế mang ý nghĩa giao tiếp với thế giới siêu nhiên để đồng bào bày tỏ sự biết ơn và cầu xin những điều tốt đẹp trong năm mới.
Thứ ba, trang phục truyền thống là yếu tố cấu thành không gian thiêng của lễ hội
Trang phục truyền thống góp phần trực tiếp tạo nên không gian thiêng, phân biệt lễ hội với đời sống thường nhật. Khi tiến hành nghi lễ, cả người thực hành và người thụ lễ đều phải mặc trang phục truyền thống theo đúng quy định của cộng đồng. Mặc trang phục truyền thống để thể hiện sự trang nghiêm, tôn trọng đối với các bậc thần linh và cũng là để thần linh nhận ra vai trò của người đang thực hiện nghi lễ.
Tùy từng dân tộc mà trang phục của người thực hành nghi lễ có sự khác nhau. Trang phục truyền thống của thầy cúng người Dao Tiền ở thôn Khuổi Xoan, xã Minh Quang, tỉnh Tuyên Quang gồm: mũ, thắt lưng, dây đeo, chiêng… những loại nhạc cụ được đem theo phù hợp với từng trường hợp cúng cụ thể. Áo dài đến gót chân người mặc, với một màu chàm đen chủ đạo, không có cúc, được buộc bằng dây, thắt đai. Phần cổ áo, ống tay áo có điểm ở một số hoa văn họa tiết hình học, cỏ cây, hoa lá… Đặc biệt, trên trang phục thầy cúng khác với những bộ trang phục ngày thường là 3 dây đeo bằng vải, có chiều dài khoảng 150 cm, rộng 20 cm được vắt qua vai, với 3 màu khác nhau gồm màu trắng, màu đen và màu đỏ. Các tua rua màu trên dây đeo có hoa văn sặc sỡ, đường thêu khá cầu kỳ bằng nhiều loại chỉ màu như đỏ, trắng, vàng… mang ý nghĩa linh thiêng, áp chế hung khí, tiêu trừ tiểu nhân, tạo sự uy nghiêm, mang lại vượng khí tài lộc [2].
Thầy cúng người Sán Chay mặc áo theo cặp, áo bên trong màu trắng, ngắn hơn áo bên ngoài, may theo kiểu truyền thống với cúc và túi áo ở hai bên. Áo khoác bên ngoài khá cầu kỳ với lối may và họa tiết trang trí là những hình thêu tinh xảo; áo thường màu đen, chàm, dài quá gối, cổ áo là một đường may kéo dài từ trên xuống dưới, thường được thêu bằng chỉ màu đỏ cũng dài từ trên xuống dưới, thân áo thường thêu trang trí hình rồng. Hai tay áo rộng, phía trên ngắn, rủ dần xuống phía dưới cho đến hết thân áo, nẹp tay áo là một đường thêu hoặc nẹp chỉ màu đỏ, bên dưới gấu áo là đường thêu chỉ màu đỏ xen lẫn màu vàng. Quần cùng màu với áo, ống rộng, đũng quần thường dài đến đầu gối, gấu quần dài trùm hết bàn chân [1].
Với đồng bào Mnông ở Tây Nguyên, trong dịp lễ hội, già làng, chủ lễ, thầy cúng mặc áo khố hoa, nhóm đánh chiêng mặc khố hoa cởi trần, phụ nữ tham gia biểu diễn mặc váy hoa và áo cộc tay để tiện đánh chiêng, múa hát [6].
Thứ tư, trang phục truyền thống là phương tiện tái hiện và truyền dạy tri thức văn hóa
Lễ hội là “lớp học văn hóa” lớn nhất của cộng đồng và trang phục là “giáo trình trực quan” nhất. Trẻ em và thanh thiếu niên thông qua quan sát, mặc thử, học cách phối trang phục trong lễ hội để tiếp nhận tri thức truyền thống, quy chuẩn thẩm mỹ và từ đó ý thức sâu sắc hơn về vai trò xã hội của mình.
Trong quá trình chuẩn bị lễ hội, việc dệt vải, thêu hoa văn, chỉnh sửa trang phục trở thành cơ hội để thế hệ đi trước truyền dạy kỹ năng và kể lại các câu chuyện văn hóa gắn với hoa văn, màu sắc cho thế hệ sau. Như vậy, trang phục còn đóng vai trò là cầu nối giữa các thế hệ, góp phần duy trì sự liên tục văn hóa trong cộng đồng.
Thứ năm, trang phục truyền thống là biểu hiện của trật tự xã hội và quan hệ cộng đồng
Trong lễ hội, trang phục truyền thống thường phản ánh rõ ràng vị trí xã hội, độ tuổi, giới tính và tình trạng hôn nhân của người mặc. Sự khác biệt trong cách đội khăn, đeo trang sức, phối màu hay sử dụng phụ kiện cho thấy cấu trúc xã hội truyền thống vẫn được duy trì và tôn trọng trong không gian lễ hội.
Thông qua trang phục truyền thống, cộng đồng tái khẳng định các chuẩn mực ứng xử, từ quan hệ gia đình, dòng họ đến vai trò của nam - nữ, già - trẻ. Điều này giúp lễ hội không chỉ là dịp vui chơi mà còn là cơ chế củng cố trật tự xã hội truyền thống, hạn chế xung đột và duy trì sự gắn kết cộng đồng.
Thứ sáu, trang phục truyền thống là công cụ gắn kết cộng đồng và nuôi dưỡng niềm tự hào văn hóa
Khi cả cộng đồng cùng mặc trang phục truyền thống trong lễ hội, cảm giác thuộc về và ý thức dân tộc trong mỗi người được củng cố mạnh mẽ. Trang phục giúp cá nhân cảm nhận rõ hơn vị trí của mình trong tập thể, từ đó tăng cường tính cố kết xã hội. Đối với những cộng đồng chịu nhiều tác động của di cư, giao thoa văn hóa và biến đổi kinh tế, vai trò này càng trở nên quan trọng. Lễ hội với sự hiện diện tập trung của trang phục truyền thống trở thành dịp để cộng đồng nhìn lại chính mình và khẳng định dù đời sống có thay đổi thì bản sắc văn hóa dân tộc vẫn được trân trọng, duy trì.
Thứ bảy, trang phục truyền thống là nguồn lực văn hóa phục vụ phát triển bền vững
Trong bối cảnh hiện nay, trang phục truyền thống trong lễ hội không chỉ mang giá trị văn hóa mà còn trở thành nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt thông qua du lịch. Khi được khai thác đúng hướng, trang phục truyền thống vừa góp phần bảo tồn di sản, vừa tạo sinh kế cho đồng bào DTTS.
Từ các vai trò trên cho thấy trang phục truyền thống trong lễ hội của đồng bào DTTS không phải là yếu tố phụ trợ mà là thành tố trung tâm của văn hóa. Trang phục truyền thống là kho tri thức được truyền qua nhiều thế hệ, vừa mang chức năng biểu tượng, nghi lễ, giáo dục, xã hội, vừa góp phần củng cố bản sắc và phát triển cộng đồng.
3. Kết luận
Trang phục truyền thống có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống văn hóa, lễ hội của các DTTS ở Việt Nam. Đề án “Bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các DTTS Việt Nam”, thực hiện trong giai đoạn 2019-2030 đặt mục tiêu bảo tồn và phát huy trang phục truyền thống của các DTTS đáp ứng yêu cầu “di sản văn hóa vừa là động lực vừa là mục tiêu”, góp phần cho sự phát triển bền vững văn hóa các DTTS Việt Nam. Đưa trang phục truyền thống phổ biến hơn trong cuộc sống của đồng bào các DTTS góp phần, nâng cao lòng tự hào, ý thức bảo tồn và phát huy trang phục truyền thống các dân tộc. Các sự kiện: Ngày hội “Sắc màu văn hóa các dân tộc”, lễ hội văn hóa thổ cẩm Việt Nam gắn với ngày Đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam, ngày Di sản Việt Nam… cùng hàng nghìn lễ hội được tổ chức hằng năm chính là giải pháp quan trọng để bảo tồn và phát huy giá trị trang phục truyền thống các DTTS gắn với không gian lễ hội.
Về mặt khoa học văn hóa, trang phục truyền thống chỉ có thể tồn tại bền vững nếu được đặt trong bối cảnh lễ hội, nơi gắn với nghi lễ, không gian thiêng và cộng đồng thực hành. Lễ hội là môi trường sống động nhất để trang phục truyền thống phát huy vai trò của mình, khi mỗi chi tiết từ hoa văn đến cách phối hợp màu sắc đều mang ý nghĩa và truyền tải thông điệp văn hóa. Nếu lễ hội bị thương mại hóa hoặc mất đi tính nguyên bản, trang phục truyền thống cũng sẽ mất môi trường thể hiện và mất dần giá trị.
Ngược lại, nếu lễ hội được phục hồi đúng chuẩn truyền thống, khuyến khích cộng đồng tham gia đầy đủ, tăng cường vai trò của già làng, trưởng bản và nghệ nhân, thì trang phục truyền thống sẽ tự nhiên được sử dụng, được công nhận và được truyền dạy. Do vậy, bảo tồn trang phục truyền thống không thể tách rời bảo tồn lễ hội, để trang phục truyền thống trở thành nguồn lực văn hóa - kinh tế đóng góp vào phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
* Học viện Chiến lược và Bồi dưỡng cán bộ xây dựng ( Bộ Xây dựng)
Tài liệu tham khảo
1. Báo Tin tức (Dân tộc và Miền núi), Trang phục thầy cúng của người Sán Chay, truy cập tại: https://dantocmiennui.baotintuc.vn/trang-phuc-thay-cung-cua-nguoi-san-chay-post178613.html
2. Báo Tuyên Quang, Trang phục thầy cúng của người Dao Tiền, truy cập tại: https://baotuyenquang.com.vn/trang-phuc-thay-cung-cua-nguoi-dao-tien-144521.html
3. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2019), Quyết định số 209/QĐ-BVHTTDL ngày 18/01/2019 về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”.
4. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Số hóa dữ liệu số lượng lễ hội truyền thống, truy cập tại: https://bvhttdl.gov.vn/so-hoa-du-lieu-le-hoi-truyen-thong-20231221110113818.htm
5. Lê Ngọc Thắng (2023), Một số vấn đề về bảo tồn, phát huy giá trị trang phục các dân tộc thiểu số trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Kỷ yếu Diễn đàn văn hóa các dân tộc thiểu số.
6. Ngân Hà, Trang phục dân tộc Mnông, VietnamPlus/VNA, truy cập tại: https://vietnam.vnanet.vn/vietnamese/long-form/trang-phuc-dan-toc-mnong-306948.html
7. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2024), Luật số 45/2024/QH15: Luật Di sản văn hóa, ban hành ngày 23/11/2024.
8. Trần Hữu Sơn (2023), Lý thuyết và hướng tiếp cận trang phục dân tộc ở Việt Nam, Kỷ yếu Diễn đàn văn hóa các dân tộc thiểu số.
9. Vũ Thị Uyên (2023), Vai trò của trang phục các dân tộc thiểu số trong không gian các lễ hội, Kỷ yếu Diễn đàn văn hóa các dân tộc thiểu số