Ở tỉnh Gia Lai, có nhiều cơ sở chế biến món bò một nắng, mang đến cho người tiêu dùng một món ăn đặc sản của vùng đất cao nguyên. Nguyên liệu làm bò một nắng được lấy từ bò được chăn thả tự nhiên, người ta sử dụng phần thịt thăn, thịt đùi, cắt thành từng lát, kết hợp với các loại gia vị khác nhau rồi đem phơi dưới cái nắng, cái gió đặc trưng của Tây Nguyên. Chính điều kiện nắng, gió tự nhiên giúp miếng thịt se mặt mà không cần xử lý công nghiệp. Sau khi phơi, thịt bò săn lại, thấm đẫm các loại gia vị đã tẩm ướp và bật lên màu đỏ đều ở cả hai mặt, thịt khô dai, giữ được vị ngọt tự nhiên và hương vị đặc trưng của thịt bò. Quá trình này đòi hỏi sự tỉ mỉ, kinh nghiệm và bí quyết riêng để tạo ra miếng bò một nắng thơm ngon, đậm đà.
Bò một nắng có thể nướng, chiên hoặc hấp tùy theo sở thích, nhưng ngon nhất là nướng trên bếp than để cảm nhận được mùi hương thơm lừng của thịt hòa quyện với các loại gia vị đã được tẩm ướp. Sau khi nướng, xé thịt thành từng miếng theo thớ, rồi chấm với muối kiến vàng, cuốn cùng với các loại rau rừng, các loại rau sống hoặc bánh tráng, bạn sẽ cảm nhận được vị ngọt của thịt bò xen lẫn với vị cay cay, chua chua lạ miệng của muối kiến vàng lan tỏa, để lại dư vị khó quên.
Từ đồng cỏ đến bàn ăn của người tiêu dùng, mỗi tiếng bò một nắng không chỉ mang hương vị nắng gió Gia Lai mà còn chứa đựng nỗ lực chuyển đổi sinh kế của người dân địa phươngNhững cơ sở chế biến sản phẩm bò một nắng đạt tiêu chuẩn OCOP ở tỉnh Gia Lai hiện đều sản xuất theo quy trình sạch, có chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng để từng bước vươn lên định vị như một món quà đặc sản đại diện cho Tây Nguyên. Nhưng đằng sau miếng bò khô là câu chuyện sinh kế gắn trực tiếp với cộng đồng dân tộc thiểu số địa phương. Tại tỉnh Gia Lai, chăn nuôi bò từ lâu đã là nguồn tích lũy tài sản quan trọng của nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số Ba na, Gia-rai, Ê-đê... Theo Cục Thống kê tỉnh Gia Lai, đến tháng 10/2025, tổng đàn bò toàn tỉnh ước đạt khoảng 808.020 con, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, khẳng định bò tiếp tục là vật nuôi chủ lực của địa phương và thuộc nhóm tỉnh có tổng đàn lớn nhất Tây Nguyên. Sự gia tăng này không chỉ phản ánh nhu cầu thị trường mà còn cho thấy xu hướng chuyển dịch từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ. Các cơ sở chế biến bò một nắng đã góp phần tạo đầu ra ổn định cho người chăn nuôi, giúp giá trị con bò không dừng lại ở bán thịt tươi mà được nâng lên thông qua chế biến sâu. Điều đó đồng nghĩa với việc người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số được tham gia trực tiếp vào chuỗi giá trị kinh tế. Đồng thời, sản phẩm bò một nắng trở thành mắt xích quan trọng giữa nông nghiệp, văn hóa và du lịch. Du khách đến Tây Nguyên không chỉ thưởng thức món ăn đặc sản mà còn hiểu thêm về đời sống cộng đồng địa phương, về phương thức chăn thả tự nhiên và cách người dân gìn giữ tập quán sản xuất lâu đời…
Từ đồng cỏ đến bàn ăn của người tiêu dùng, mỗi miếng bò một nắng không chỉ mang hương vị nắng gió Gia Lai mà còn chứa đựng nỗ lực chuyển đổi sinh kế của người dân địa phương. Mỗi năm, các cơ sở chế biến bò một nắng ở tỉnh Gia Lai có thể đạt doanh thu hàng chục tỷ đồng. Song có lẽ, giá trị lớn nhất của sản phẩm này ở chỗ nó chứng minh rằng khi chăn nuôi truyền thống được kết nối với thị trường hiện đại, đặc sản địa phương hoàn toàn có thể trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho đồng bào các dân tộc thiểu số .
Phải nói thêm rằng muối kiến vàng luôn là linh hồn của món bò một nắng, là một loại gia vị độc đáo chỉ có ở vùng Ayun Pa, Krong Pa. Để làm ra loại muối đặc biệt này, người dân phải vào tận rừng sâu để tìm loài kiến vàng to, bụng căng mọng. Chính những chú kiến này tạo nên hương vị chua chua, cay cay, hòa quyện hoàn hảo với vị ngọt đậm đà của món bò một nắng./.