Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Chữ Quốc ngữ La-tinh và những đóng góp của Công giáo

TS. Nguyễn Quỳnh Trâm* - 16:37, 07/02/2026

Tóm tắt: Đến nay, Việt Nam trải qua hai thời kỳ chữ Quốc ngữ: Quốc ngữ Hán Nôm và La-tinh. Một thời gian dài, người Việt Nam dùng chữ Quốc ngữ Hán, sau này là chữ Nôm, gọi chung là Hán Nôm. Chữ Quốc ngữ La-tinh được hình thành từ giữa thế kỷ XVII ở miền Trung (Đàng Trong) với sự đóng góp của các giáo sỹ Công giáo. Sau khi chữ Quốc ngữ La-tinh được hình thành, các giáo sỹ Công giáo nỗ lực mở rộng trong cộng đồng, để sau này với sự đóng góp của các tôn giáo, các cá nhân và tổ chức xã hội đã xã hội hóa để chính thức trở thành chữ viết La-tinh - chữ Quốc ngữ La-tinh ở Việt Nam.

Từ khóa: Chữ Quốc ngữ La-tinh; Công giáo và các tôn giáo; Những đóng góp.


Tiểu chủng viện Làng Sông (Quy Nhơn) - một địa điểm quan trọng gắn liền với quá trình hình thành chữ Quốc ngữ
Tiểu chủng viện Làng Sông (Quy Nhơn) - một địa điểm quan trọng gắn liền với quá trình hình thành chữ Quốc ngữ

1. Giáo sỹ dòng tên và việc hình thành chữ Quốc ngữ La-tinh

Hiện nay, vẫn còn những ý kiến khác nhau về thời gian cụ thể về việc truyền Công giáo vào Việt Nam. Một văn bản chính thống - sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép rằng: “Năm Nguyên Hòa thứ nhất (1533) có một người Tây Dương tên là I-ni-khu vào truyền đạo Gia tô ở xã Ninh Cường, xã Quần Anh thuộc huyện Nam Chấn và làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Thủy”¹. Giới nghiên cứu lịch sử Công giáo thống nhất lấy năm 1533 là thời mốc đánh dấu việc truyền Công giáo vào Việt Nam. Thời kỳ từ năm 1533 - 1614 chủ yếu là các giáo sỹ Dòng Phanxicô (Ordre Franciscains) thuộc Bồ Đào Nha và Dòng Đa Minh (Ordre de Dominicains) thuộc Tây Ban Nha đi theo những thuyền buôn vào Việt Nam truyền giáo, nhưng do không quen thông thổ, chưa thạo ngôn ngữ nên việc truyền giáo không mấy kết quả. Sau đó, việc truyền Công giáo ở Việt Nam chuyển qua vai trò của các giáo sỹ Dòng Tên (Ordre de Jesuites).

Dòng Tên truyền vào Việt Nam trong bối cảnh cuộc chiến Trịnh - Nguyễn phân tranh lấy sông Gianh phân thành hai miền, phía Bắc sông Gianh là Đàng Ngoài thuộc Chúa Trịnh, phía Nam sông Gianh là Đàng Trong thuộc Chúa Nguyễn. Từ năm 1615-1665, các giáo sỹ Dòng Tên từ Ma Cao, Trung Quốc vào Việt Nam hoạt động. Ngày 18/01/1615, các thừa sai Dòng Tên đến Cửa Hàn, Đà Nẵng để làm mục vụ cho các thương nhân người Bồ Đào Nha (quen gọi là Bồ) và thực hiện việc truyền giáo cho người Nhật Bản (quen gọi là Nhật) đang ở Hội An. Sau khi đến Đà Nẵng, các thừa sai Dòng Tên mở rộng việc truyền giáo đối với người Việt ở các vùng xung quanh. Sau khi gây dựng được cơ sở ở Đàng Trong, công việc truyền giáo của các thừa sai Dòng Tên ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài được tăng cường.

Điều cần ghi nhận bên cạnh việc truyền giáo, việc các thừa sai Dòng Tên ở Đàng Trong có đóng góp quan trọng đối với văn hóa Việt Nam là La-tinh hóa chữ viết của người Việt Nam, tức là dùng mẫu tự Latinh Alphabet gồm các chữ cái là a,b,c,d,e… để tạo ra chữ viết, đồng thời, hình thành ngữ pháp theo cơ chế La-tinh, sau này, trở thành chữ Quốc ngữ La-tinh thay cho chữ Hán Nôm. Và vùng đất Nước Mặn trở thành cái nôi của chữ Quốc ngữ La-tinh.

Công cuộc truyền giáo ở phương Đông, trong đó có Việt Nam của các thừa sai Công giáo thời kỳ đầu luôn vấp phải khó khăn về ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán. Do vậy, các nhà truyền giáo tập trung vào việc học tiếng Việt, cùng với đó là tìm hiểu văn hóa, phong tục tập quán để hỗ trợ cho việc truyền giáo như đã từng được các thừa sai Dòng Tên thực hiện ở Nhật Bản và Trung Quốc. Thời kỳ đầu truyền giáo ở Đàng Trong có nhiều giáo sỹ thành công trong học tiếng Việt, trong đó có: Francesco de Pina, Francesco Buzomi, Cristoforo Borii,... Và cũng chính các ông giỏi tiếng Việt nên đã đóng vai trò sáng tạo ra chữ Quốc ngữ La-tinh[2; tr.361-362].

Người có vai trò quan trọng đối với việc hình thành chữ Quốc ngữ La-tinh là giáo sư thần học người Ý Francesco Buzomi (1576 - 1639). Ông đến Ma Cao năm 1608, sau đó qua Nhật Bản. Năm 1615 đến Việt Nam, lúc đầu ông làm việc với các thừa sai người Bồ Đào Nha ở Cửa Hàn (Đà Nẵng), người Nhật ở Hội An (Quảng Nam). Năm 1617, F. Buzomi vào Nước Mặn, học tiếng Việt và bắt đầu truyền giáo cho người Việt. Ông F. Buzomi đã sớm tìm kiếm những cộng tác viên ưu tú người Nhật, người Việt để giúp các thừa sai Dòng Tên ở Đàng Trong học tiếng Việt. Từ năm 1618 - 1629, F. Buzomi làm đầu mối của cơ sở Công giáo ở Nước Mặn. Năm 1629, F. Buzomi và một số thừa sai khác bị Chúa Nguyễn trục xuất khỏi Đàng Trong, sang truyền giáo tại Campuchia (1629 - 1634). Năm 1634, từ Campuchia, F. Buzomi về Ma Cao. Năm 1635 - 1639, Buzomi trở lại Đàng Trong với tư cách bề trên miền truyền giáo[3; tr196-197].

Vị thừa sai khác liên quan đến chuyển ngữ tiếng Việt qua mẫu tự La-tinh là Linh mục Francesco de Pina (1585 - 1625) người Bồ Đào Nha, từng học ở Trường Collège Ma Cao về khoa học xã hội và tiếng Nhật. Khi đến Nước Mặn năm 1617, F. de Pina miệt mài học tiếng Việt, đến năm 1620, đã thông thạo tiếng Việt. Ông là người đi nhiều nơi để tìm hiểu con người và văn hóa vùng đất này. Trong quá trình giao tiếp và truyền giáo, Linh mục F. de Pina đã có ý tưởng dùng chữ cái La-tinh để thể hiện âm ngữ tiếng Việt. Linh mục F. de Pina cùng với các thừa sai Dòng Tên đã khởi đầu cho việc chuyển tiếng Việt qua mẫu tự La-tinh để sau này là chữ Quốc ngữ La-tinh[4; tr259-360].

Linh mục người Ý Cristoforo Borii (1583 - 1632), nhà truyền giáo Dòng Tên đến Ma Cao năm 1916, sau đó, năm 1618, ông cập bến Cửa Hàn (Đà Nẵng) thực hiện truyền giáo ở Nước Mặn, Bình Định. Ngoài ra, Linh mục C. Borri còn là nhà toán học, thiên văn học, nhà hàng hải. Đến Nước Mặn, ông rất tích cực học tiếng Việt và nghiên cứu văn hóa Việt Nam. Ông cùng với các thừa sai Buzomi, Pina hình thành ý tưởng dùng mẫu tự Latinh để thể hiện chữ viết của người Việt Nam. Ông cũng là người ghi chép vùng đất, con người ở Đàng Trong, về quá trình truyền giáo ở đây, sau này để lại ấn phẩm Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong được xuất bản nhiều lần bằng nhiều thứ tiếng ở châu Âu. Ấn phẩm đã để lại những câu, chữ về địa danh, nhân vật, tập quán bằng tiếng Việt qua mẫu tự La-tinh đã dùng các dấu để thể hiện âm điệu của ngôn ngữ Việt[5].

Một nhân vật được nhắc đến nhiều trong việc hình thành chữ Quốc ngữ La-tinh là Alexandre de Rhodes, tiếng Việt gọi là Đắc Lộ (1591 - 1660) người Pháp. Năm 1618, A. de Rhodes trở thành Linh mục Dòng Tên, năm 1624, ông được cử đến Đàng Trong, đến năm 1626, ông trở về Ma Cao, sau đó trở lại Việt Nam đến năm 1645. Ở Việt Nam tất cả 11 năm nên A. de Rhodes là người rất hiểu về văn hóa và tính cách của người Việt. Ông còn là người rất giỏi ngoại ngữ, chỉ chưa đến một năm ở Việt Nam, ông đã giảng đạo bằng tiếng Việt[6; tr193]. Đặc biệt, A. de Rhodes đã kế thừa các nghiên cứu, chế tác tiếng Việt chữ La-tinh của các thừa sai trước đó để phát triển hệ chữ Quốc ngữ La-tinh. Ông rất chú trọng đến ngữ pháp theo mô hình ngữ pháp La-tinh và ngôn từ của một ngôn ngữ để bổ sung một cách phù hợp, trong đó có các dấu: huyền - sắc - nặng - hỏi - ngã, a ă â - e ê - o ô ơ - u ư. Đặc biệt, A. de Rhodes là người sống ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài nên hiểu được ngôn ngữ hai miền để điều chỉnh phù hợp. Kết quả chữ Quốc ngữ Latinh của A. de Rhodes là cuốn Từ điển Việt - Bồ - La xuất bản tại Ý năm 1651. Như vậy, “ông không phải là người đầu tiên sáng tác ra phương pháp viết tiếng Việt theo vần La ngữ, nhưng là người có công nhất trong việc tu sửa một thứ chưa đang ở thời kỳ phôi thai, một công việc lớn lao đòi phải có một con người đầu óc khoa học và thức thời như cha Đắc Lộ”[2; tr.368-369].

Cùng với các thừa sai nói trên còn có những giáo sỹ, tu sỹ khác của Dòng Tên ở những thời gian khác nhau với những mức độ khác nhau hỗ trợ trong việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ ở giai đoạn đầu, như: Pedro Marques, Antonio Diaz, Gaspar do Amaral, Antonio Barbosa, Antonio de Fontes,… Như vậy, từ cái nôi ở Nước Mặn, chữ La-tinh, gọi là tiền Quốc ngữ Latinh được hình thành, để sau đó được mở rộng đến những vùng xung quanh là Hội An, Dinh Chiêm, Cửa Hàn,… Và sau này, từ Đàng Trong, chữ Quốc ngữ Latinh lan rộng ra cả nước qua các thời gian khác nhau với sự đóng góp của giáo sỹ Công giáo qua Hội Thừa sai Paris.

Các ấn phẩm trong phông chữ tiếng Việt cổ được giới thiệu trong khuôn khổ triển lãm “Chữ quốc ngữ, nhân tố cơ bản trong sự đổi mới văn hóa Việt Nam từ năm 1860 đến 1945” tại Paris
Các ấn phẩm trong phông chữ tiếng Việt cổ được giới thiệu trong khuôn khổ triển lãm “Chữ quốc ngữ, nhân tố cơ bản trong sự đổi mới văn hóa Việt Nam từ năm 1860 đến 1945” tại Paris

2. Các giáo sỹ Hội Thừa sai Paris và quá trình mở rộng chữ Quốc ngữ La-tinh

Vì nhiều lý do, từ giữa thế kỷ XVII, việc truyền Công giáo ở Việt Nam chuyển từ Dòng Tên qua Hội Thừa sai Paris (Missions Étrangères de Paris - MEP). Hội Thừa sai Paris thành lập năm 1664 với vai trò của A. de Rhodes. Sau khi thành lập, Giáo hoàng Alexander VII giao quyền truyền giáo ở châu Á, trong đó có Việt Nam thay thế cho các thừa sai Dòng Tên. Việc truyền giáo của Hội Thừa sai Paris ở Việt Nam thời kỳ đầu gặp khó khăn vì nhiều lý do. Thời kỳ đầu, việc truyền giáo của Hội Thừa sai Paris chưa phải toàn bộ Việt Nam mà ở một số nơi ở Đàng Ngoài vẫn duy trì với vai trò của Dòng Đa Minh Tây Ban Nha.

Về mặt tổ chức, năm 1659, Giáo hoàng Alexander VII cho thành lập hai giáo phận: giáo phận Đàng Trong có Tòa Giám mục ở Làng Sông, Quy Nhơn, giáo phận Đàng Ngoài có Tòa Giám mục tại Bùi Chu, Nam Định; đến năm 1679, giáo phận Đàng Ngoài chia làm hai là giáo phận Đông Đàng Ngoài và giáo phận Tây Đàng Ngoài. Cùng với phân chia tổ chức, giáo triều Rôma chú trọng các nhân sự giám mục cai quản các giáo phận. Thời kỳ này, Hội Thừa sai Par-is tăng cường các giáo sỹ, tu sỹ thực hiện việc truyền giáo ở Việt Nam. Số thừa sai ngoại quốc ở Việt Nam cũng tăng lên theo thời gian. Tuy nhiên, với số lượng tín đồ, cơ sở thờ tự ngày một nhiều, số giáo sỹ người nước ngoài của Hội Thừa sai Paris không đáp ứng. Do vậy, một trong những hoạt động quan trọng của Hội Thừa sai Paris giai đoạn này là mở các chủng viện để đào tạo giáo sỹ người Việt. Đây chính là một trong những môi trường mở rộng chữ Quốc ngữ La-tinh trong một thời gian dài.

Từ những cơ sở đào tạo trên, số lượng linh mục người Việt Nam cũng tăng theo thời gian. Năm 1690, mới chỉ có 08 linh mục người Việt ở Đàng Trong được thụ phong, năm 1840 là 150 linh mục người Việt, năm 1889 có đến 1.246 chủng sinh người Việt ở các cơ sở đào tạo[8].

Một lực lượng Công giáo quan trọng mở rộng chữ Quốc ngữ La-tinh là tu sỹ các dòng tu ở Việt Nam. Dòng tu vào Việt Nam sớm nhất là Dòng Đa Minh (Ordre de Dominicains) năm 1550, sau đó là Dòng Tên (Ordre de Jesuites) năm 1615, Dòng Lasan (Ordre de Lasalliens) năm 1886,… Bên cạnh những dòng tu nam như đã nêu là các dòng tu nữ, như: Dòng Phaolô năm 1861, Dòng Cát Minh năm 1861, Dòng Mến Thánh giá năm 1843,...[9].

Một sự kiện quan trọng liên quan đến Công giáo sử dụng chữ Quốc ngữ La-tinh không thể không nhắc đến là là bản dịch trọn bộ Kinh Thánh ra Quốc ngữ La-tinh của Công giáo sớm nhất là năm 1913 do Linh mục Albertus Schlicklin (1857-1932) gọi là Cố Chính Linh hay Cố Chính Truyền Tự thuộc Hội Thừa sai Paris - MEP thực hiện. Năm 1913 là bộ sách Kinh Thánh của bản Vulgata quyển 1, năm 1914 là quyển 2 và quyển 3 được in tại Hồng Kông. Đến năm 1916, Cố Chính Linh hoàn chỉnh việc dịch Kinh Thánh sang chữ Quốc ngữ La-tinh.

3. Kết luận

Về chữ Quốc ngữ La-tinh của Việt Nam có nhiều công trình được các nhà nghiên cứu “trong đạo, ngoài đời” thực hiện công bố ở trong nước và ngoài nước. Bài viết là sự sưu tầm và tích hợp để nhấn mạnh những chặng đường chữ Quốc ngữ La-tinh ở Việt Nam, từ đó ghi nhận và trân trọng những cá nhân, tổ chức đã nỗ lực đóng góp. Đồng thời, bài viết cũng là để nhấn mạnh chữ Quốc ngữ La-tinh đã, đang và sẽ là phương tiện thuận lợi để Việt Nam giao tiếp và hội nhập với thế giới, tạo ra nét văn hóa độc đáo với những đặc trưng riêng khác so với nhiều quốc gia phương Đông - châu Á./.

* Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tài liệu tham khảo

1. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập II, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr.301.

2. Bùi Đức Sinh, Lịch sử Giáo hội Công giáo - Tập 2, Veritas Edition, Westminster, California, USA, 2009, tr. 361-362.

3. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội 2016, tr.796-197.

4. Lm. Vinh sơn Bùi Đức Sinh, OP, Lịch sử Giáo hội Công giáo Tập 2, sđd, tr.259-360.

5. Tổng hợp theo Nguyễn Thanh Quang, Linh mục Gioan Võ Đình Đệ, Dòng chảy chữ Quốc ngữ trong văn hóa Việt, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2024.

6. Nguyễn Thanh Xuân, Một số tôn giáo ở Việt Nam, sđd, tr.193.

7. Tổng hợp theo Hội đồng Giám mục Việt Nam, Giáo hội Công giáo - Niên giám 2005, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2006.

8. Tổng hợp theo Trương Bá Cần, Lịch sử phát triển Công giáo ở Việt Nam, Tập 2, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2008 - Nguyễn Thanh Xuân, Một số tôn giáo ở Việt Nam, sđd.

9. Ban Tôn giáo Chính phủ, Các dòng tu Công giáo ở Việt Nam, Hà Nội, 2024.

10. Tổng hợp theo Trịnh Hùng Cường, Lần theo dấu chữ thời kỳ đầu in ấn sách báo chữ La-tinh ở Việt Nam (1862-1920), Nxb. Thông tấn, Hà Nội, 2024.

11. Nguyễn Thanh Xuân, Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2014, tr.128.

12. Tổng hợp theo Dương Thanh Mừng, Chấn hưng Phật giáo ở miền Nam Việt Nam, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2022.

13. Tổng hợp theo Nguyễn Đại Đồng, Lược khảo báo chí Phật giáo Việt Nam (1929-2008), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2008.

14. Đặng Ngọc Phúc (2012), Những người Tin Lành tại Việt Nam trước năm 1911, USA, tr.306.

15. Prosper Cultural, Lịch sử Nam Kỳ thuộc Pháp, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2021, tr.371.