Từ khóa: Cử tuyển; Chính sách dân tộc; Nguồn nhân lực.
Do điều kiện học tập ở vùng sâu, vùng xa còn hạn chế, nhiều học sinh được cử tuyển chưa đáp ứng nền tảng kiến thức cần thiết1. Đặt vấn đề
Phát triển nguồn nhân lực luôn được xác định là “chìa khóa” để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) với mặt bằng chung cả nước. Giáo dục đại học cho người dân tộc thiểu số (DTTS) giữ vai trò tạo ra lớp trí thức - những người vừa có tri thức chuyên môn, vừa am hiểu phong tục, ngôn ngữ, văn hóa dân tộc và có khả năng gắn bó lâu dài với địa bàn. Chính sách cử tuyển ra đời từ những yêu cầu ấy. Đây là một chính sách nhân văn và có tính định hướng rõ ràng: Nhà nước hỗ trợ toàn bộ chi phí học tập, sinh hoạt, ưu tiên bố trí việc làm cho sinh viên cử tuyển sau khi tốt nghiệp.
Tuy nhiên, sau nhiều năm triển khai, tồn tại một thực tế là không ít sinh viên cử tuyển tốt nghiệp nhưng không được bố trí việc làm đúng chuyên môn; Có nơi thiếu cán bộ nhưng vẫn “thừa” sinh viên; Ngân sách đầu tư lớn song hiệu quả xã hội chưa tương xứng. Câu hỏi đặt ra là: chính sách đã thực sự đạt mục tiêu ban đầu hay chưa và nếu chưa, điểm nghẽn ở đâu? Bài viết nhằm đánh giá kết quả thực hiện chính sách cử tuyển, phân tích các hạn chế trong quá trình thực thi và đề xuất hướng điều chỉnh phù hợp trong giai đoạn mới.
2. Những kết quả đạt được trong thực hiện chính sách cử tuyển
2.1. Vai trò của chính sách cử tuyển
Theo Nghị định số 141/2020/NĐ-CP ngày 8/12/2020 của Chính phủ quy định chế độ cử tuyển đối với học sinh, sinh viên DTTS, cử tuyển là việc tuyển sinh qua phương thức xét tuyển vào đại học, cao đẳng, trung cấp đối với người học là người DTTS rất ít người, người DTTS ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn chưa có hoặc có rất ít đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là người DTTS.
Chính sách cử tuyển là một công cụ bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục đại học đối với nhóm yếu thế. Trước hết, trong điều kiện mặt bằng kinh tế - xã hội và chất lượng giáo dục giữa vùng đồng bào DTTS&MN với các khu vực thuận lợi còn khoảng cách lớn, cơ chế tuyển sinh thuần túy theo cạnh tranh đầu vào sẽ khó có thể tạo cơ hội cho học sinh DTTS ở vùng khó khăn. Cử tuyển vì thế không đơn thuần là một suất học ưu tiên, mà là sự can thiệp có chủ đích của Nhà nước nhằm tái phân bổ cơ hội học tập, giúp học sinh DTTS vượt qua rào cản tài chính và học lực ban đầu để bước vào bậc học cao hơn. Ở góc độ chính sách công, đây là giải pháp điều tiết bất bình đẳng mang tính chủ động, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền ngay từ điểm xuất phát của nguồn nhân lực.
Thứ hai, cử tuyển giữ vai trò tạo nguồn cán bộ tại chỗ cho hệ thống chính trị cơ sở - một yêu cầu có tính chiến lược đối với vùng đồng bào DTTS&MN. Thực tiễn cho thấy, hiệu quả quản lý nhà nước, chất lượng cung ứng dịch vụ công và hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động quần chúng ở vùng đồng bào DTTS&MN phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ cán bộ am hiểu ngôn ngữ, phong tục tập quán và có sự gắn bó lâu dài với địa bàn. Lực lượng này khó có thể hình thành nếu chỉ trông chờ vào sự điều động từ nơi khác. Thông qua đào tạo theo diện cử tuyển, nhiều địa phương đã từng bước xây dựng được đội ngũ cán bộ là người DTTS tại chỗ. Họ không chỉ thực hiện chức năng chuyên môn mà còn đóng vai trò “cầu nối xã hội”, truyền tải chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến người dân một cách thuyết phục, đồng thời phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng từ cơ sở với các cấp có thẩm quyền. Cử tuyển vì thế góp phần củng cố nền tảng nhân lực, tăng cường tính bền vững của hệ thống chính trị ở cơ sở.
Thứ ba, chính sách cử tuyển còn tạo ra chuyển biến xã hội mang tính dài hạn thông qua thay đổi nhận thức của cộng đồng về giá trị của giáo dục. Khi thanh niên DTTS được vào đại học, tốt nghiệp và trở về địa phương công tác, hình ảnh “người học cao trở thành cán bộ” trở thành minh chứng sống động cho con đường phát triển bằng tri thức. Điều này tạo hiệu ứng tích cực, khích lệ các gia đình quan tâm hơn đến việc học của con em, giảm tình trạng bỏ học sớm, từng bước hình thành văn hóa coi trọng học tập trong gia đình, cộng đồng. Tác động ấy không đo đếm hết bằng con số, nhưng lại có ý nghĩa căn bản, góp phần phá vỡ vòng luẩn quẩn nghèo đói - thiếu học - thiếu cơ hội - nghèo đói, mở ra triển vọng phát triển bền vững cho cả thế hệ tiếp theo.
Nhìn tổng thể, với ba vai trò đồng thời: Bảo đảm công bằng giáo dục, tạo nguồn cán bộ tại chỗ và thúc đẩy chuyển biến nhận thức xã hội - chính sách cử tuyển như một “đòn bẩy” quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực vùng đồng bào DTTS&MN. Đây chính là cơ sở thực tiễn để khẳng định sự cần thiết của chính sách, đồng thời cũng là lý do đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện chính sách nhằm phát huy hiệu quả thực chất hơn trong giai đoạn mới.
2.2. Kết quả thực hiện chính sách cử tuyển
Hằng năm, trên cơ sở đăng ký chỉ tiêu cử tuyển của địa phương, được Bộ Giáo dục và Đào tạo xét duyệt, phân bổ, các địa phương thực hiện xét chọn đối tượng cử tuyển đảm bảo theo các quy định hiện hành về chế độ, chính sách cử tuyển, chủ động triển khai ký hợp đồng đào tạo với cơ sở giáo dục đại học, đảm bảo bố trí nguồn ngân sách thực hiện chính sách cử tuyển theo quy định của pháp luật.
Đến nay, 53/53 DTTS đều có người được cử tuyển ở các trình độ trung cấp, cao đẳng và đại học. Có những DTTS trước đây khó khăn về nguồn tuyển sinh, như: Co, Mảng, Rơ Măm, Cơ Lao, Gié Triêng, Cống, Brâu cũng đã có người học cử tuyển. Giai đoạn 2017-2020: Số cử tuyển mới là 221 sinh viên; Số tốt nghiệp là 2.096 sinh viên; Số sinh viên cử tuyển tốt nghiệp đã được bố trí việc làm là 1.089 sinh viên (chiếm khoảng 52%); Số sinh viên tốt nghiệp chưa bố trí được việc làm là 1.007 sinh viên (chiếm khoảng 48%). Giai đoạn 2021-2024, nhu cầu đào tạo theo chế độ cử tuyển có xu hướng giảm dần cả về số lượng địa phương và chỉ tiêu đăng ký. Năm 2021, có 7 tỉnh (cũ) còn thực hiện chế độ cử tuyển là: Hà Giang, Lào Cai, Lạng Sơn, Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận, Sóc Trăng; Năm 2022, giảm tỉnh Ninh Thuận; Năm 2023, giảm thêm tỉnh Sóc Trăng. Từ năm 2021 đến 2024, có 235 người học cử tuyển (trong đó 74 người được cử tuyển mới hằng năm, 161 người được cử tuyển trước năm 2021 đang học tại các trường đại học, cao đẳng). Số sinh viên cử tuyển tốt nghiệp là 187 người; Số sinh viên cử tuyển tốt nghiệp đã được bố trí việc làm là 133 người (tỷ lệ 71,12%).
Theo đánh giá của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, việc thực hiện chế độ cử tuyển và sắp xếp, bố trí công tác cho sinh viên cử tuyển tốt nghiệp đã giúp phát triển đội ngũ cán bộ người DTTS có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu phát triển vùng đồng bào DTTS&MN.
Bên cạnh những kết quả đạt được, kết quả giám sát chuyên đề “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về công tác cán bộ người DTTS, giai đoạn 2016-2023” do Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa XV thực hiện cho thấy, chính sách cử tuyển còn nhiều bất cập.
Một là, chất lượng đầu vào chưa đồng đều. Do điều kiện học tập ở vùng sâu còn hạn chế, nhiều học sinh được cử tuyển chưa đáp ứng nền tảng kiến thức cần thiết. Trong quá trình đào tạo, sinh viên cử tuyển thường học chung chương trình với sinh viên chính quy, trong khi xuất phát điểm khác biệt lớn, vì vậy, chất lượng đào tạo cử tuyển thường không cao.
Hai là, ngành, nghề đào tạo trong chính sách cử tuyển chưa phù hợp và đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Đào tạo chưa gắn với nhu cầu sử dụng. Nhiều địa phương cử tuyển theo chỉ tiêu có sẵn của trường hơn là theo quy hoạch nhân lực. Hệ quả là ngành đào tạo không phù hợp nhu cầu thực tế: nơi cần cán bộ kỹ thuật lại đào tạo kinh tế, nơi cần giáo viên mầm non lại thừa cử nhân hành chính…
Ba là, bố trí việc làm sau tốt nghiệp là “nút thắt” lớn nhất. Không ít sinh viên cử tuyển sau khi tốt nghiệp phải chờ đợi nhiều năm, làm việc trái ngành hoặc tự tìm việc ngoài khu vực công. Cam kết “học xong có việc” vì thế bị suy giảm tính thuyết phục. Giai đoạn 2017-2020, số sinh viên tốt nghiệp cử tuyển chưa bố trí được việc làm là 1.007 sinh viên (chiếm khoảng 48%). Tuy nhiên, qua báo cáo giám sát của 25 tỉnh/thành phố, còn 1.695 người chưa bố trí được việc làm.
Thực trạng trên dẫn đến nhiều tỉnh từ năm 2016 đến nay không còn thực hiện chế độ cử tuyển, số chỉ tiêu và số người học cử tuyển có xu hướng giảm nhanh. Năm 2020, có 24 người/50 chỉ tiêu/3 tỉnh (Điện Biên, Lào Cai, Trà Vinh); Năm 2021, có 59 người/154 chỉ tiêu/3 tỉnh (Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai); Năm 2022, Bộ Giáo dục và Đào tạo giao 268 chỉ tiêu cử tuyển cho 5 tỉnh nhưng chỉ có tỉnh Lào Cai cử 09 học sinh đi học. Mặc dù số tỉnh đăng ký chỉ tiêu cử tuyển và số học sinh cử tuyển những năm gần đây giảm, nhưng lại tập trung vào các tỉnh còn tương đối nhiều người học cử tuyển trước đây chưa được tuyển dụng như: Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang (nay là Tuyên Quang).
Vấn đề đặt ra là liệu với chính sách hiện hành thì số sinh viên đang theo học cử tuyển hiện nay sau khi tốt nghiệp có được xem xét, tuyển dụng không, hay lại rơi vào tình trạng tồn đọng, không bố trí tuyển dụng được như số sinh viên đã tốt nghiệp trước đây, nhất là trong bối cảnh đẩy mạnh thực hiện chủ trương tinh giản biên chế, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, các địa phương đang ưu tiên sử dụng biên chế để bố trí cán bộ, công chức chịu ảnh hưởng của sáp nhập đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã.
Hội đồng Dân tộc của Quốc hội cũng phát hiện một vấn đề khác, đó là chính sách ưu tiên cộng điểm cho sinh viên tốt nghiệp cử tuyển khi xét tuyển cùng với nhóm “Người cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” không hiệu quả. Mặt khác, sau sắp xếp bộ máy chính quyền địa phương hai cấp, các xã đã có đủ các vị trí việc làm, do đó người tốt nghiệp cử tuyển không còn cơ hội để xét tuyển vào cán bộ, công chức xã. Báo cáo giám sát của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa XV đánh giá: “Số lượng học sinh học theo chế độ cử tuyển chưa được xét tuyển, bố trí việc làm còn tồn đọng nhiều, gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước, ảnh hưởng đến tâm tư nguyện vọng, công ăn, việc làm của con em các DTTS”.
Thực trạng trên có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân cốt lõi trước hết xuất phát từ tư duy thực thi chính sách còn mang nặng tính “bao cấp cơ hội”, coi việc đưa được bao nhiêu học sinh vào đại học là thước đo thành công, trong khi chưa quan tâm đúng mức đến chất lượng đào tạo và hiệu quả sử dụng sau tốt nghiệp đã làm suy giảm ý nghĩa ban đầu của chính sách.
Thứ hai, sự thiếu gắn kết giữa ba chủ thể: Địa phương - cơ sở đào tạo và cơ quan quản lý nhà nước đã tạo ra khoảng trống trách nhiệm trong quá trình thực thi. Về nguyên tắc, địa phương phải là bên xác định nhu cầu nhân lực và tiếp nhận sử dụng; cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm bảo đảm chất lượng; Cơ quan quản lý giữ vai trò điều phối, giám sát. Tuy nhiên, trên thực tế, địa phương đề xuất chỉ tiêu nhưng ít tham gia theo dõi quá trình học tập; Cơ sở đào tạo thực hiện đào tạo chung, chưa có chương trình đặc thù; Cơ quan quản lý chủ yếu dừng ở phân bổ kinh phí.
Thứ ba, công tác dự báo và quy hoạch nhu cầu nhân lực còn bất cập. Nhiều địa phương chưa tính toán cụ thể trong 5-10 năm tới, cần bao nhiêu cán bộ, công chức, viên chức. Đào tạo không gắn với quy hoạch sử dụng dẫn đến nghịch lý: Nơi cần thì không có người, nơi đào tạo xong lại không có vị trí việc làm. Đây là biểu hiện điển hình của sự lệch pha giữa đào tạo và thị trường lao động khu vực công, làm giảm mạnh hiệu quả của chính sách.
Thứ tư, cơ chế ràng buộc pháp lý và kỷ luật thực thi chưa đủ mạnh để bảo đảm tính cam kết hai chiều giữa Nhà nước và người học. Quy định về trách nhiệm bố trí việc làm, nghĩa vụ phục vụ địa phương hoặc bồi hoàn kinh phí khi vi phạm còn thiếu tính khả thi trong tổ chức thực hiện. Khi sinh viên không được bố trí việc làm đúng cam kết, quyền lợi của họ không được bảo đảm. Ngược lại, khi người học không thực hiện nghĩa vụ, cơ chế xử lý cũng khó áp dụng triệt để. Kỷ luật chính sách bị suy giảm làm cho cử tuyển mất đi tính ràng buộc cần thiết của một chương trình đầu tư công có điều kiện.
3. Thảo luận
Câu hỏi đặt ra không phải là có nên duy trì cử tuyển hay không, mà là duy trì theo cách nào. Thực tiễn cho thấy, nếu chỉ ưu tiên đầu vào sẽ không đủ bảo đảm công bằng thực chất. Công bằng phải đi đến cùng của chu trình: Học tập - tốt nghiệp có việc làm - phục vụ địa phương. Nếu một mắt xích đứt gãy, toàn bộ chính sách mất ý nghĩa. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy cấp chỉ tiêu sang đặt hàng đào tạo, từ hỗ trợ học phí sang cam kết vị trí việc làm, từ ưu tiên đại học sang đào tạo đúng nhu cầu, kể cả giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao.
4. Đề xuát một số giải pháp
Thứ nhất, cần rà soát, đánh giá tác động của chính sách, trọng tâm là đánh giá thực trạng từ năm 2016 đến nay, nhiều địa phương không có nhu cầu cử tuyển hoặc xu hướng giảm để đề xuất điều chỉnh cơ chế, chính sách cho phù hợp.
Thứ hai, cử tuyển phải gắn với quy hoạch, kế hoạch đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực của địa phương; Ngành nghề đào tạo cử tuyển phải phù hợp nhu cầu thực tế của cơ quan, tổ chức, địa phương. Rà soát, điều chỉnh quy định về cử tuyển theo hướng rõ trách nhiệm của địa phương trong bố trí việc làm cho người tốt nghiệp cử tuyển. Gắn chỉ tiêu cử tuyển với quy hoạch vị trí việc làm cụ thể.
Thứ ba, nâng cao chất lượng đầu vào và đào tạo hệ cử tuyển. Tổ chức lớp dự bị đại học, bồi dưỡng kiến thức nền. Tăng cường hỗ trợ học thuật, cố vấn học tập. Đẩy mạnh hướng nghiệp từ bậc phổ thông.
Thứ tư, gắn đào tạo với sử dụng, thực hiện cơ chế đặt hàng, đào tạo theo địa chỉ, có hợp đồng làm việc sau tốt nghiệp. Ưu tiên tuyển dụng vào khu vực công đối với sinh viên hoàn thành cam kết.
Thứ năm, đổi mới mô hình cử tuyển, không chỉ đào tạo hệ cao đẳng, đại học mà có thể là đào tạo nghề chất lượng cao. Khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia sử dụng lao động là người DTTS.
5. Kết luận
Cử tuyển là một chính sách đúng, thể hiện rõ trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm công bằng giáo dục và phát triển nguồn nhân lực vùng đồng bào DTTS&MN, góp phần mở rộng cơ hội học tập, tạo nguồn cán bộ tại chỗ và thúc đẩy nâng cao nhận thức xã hội về giá trị của tri thức. Trong bối cảnh yêu cầu phát triển bền vững ngày càng cao, cử tuyển cần được đổi mới theo hướng nâng chất lượng, xác định rõ trách nhiệm đầu ra và bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, để chính sách thực sự trở thành đòn bẩy phát triển lâu dài cho vùng đồng bào DTTS&MN.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025). Báo cáo chuyên đề “Công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực DTTS giai đoạn 2021-2025 và định hướng các chương trình, chính sách giai đoạn 2026-2030”.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025). Báo cáo tham luận “Các chính sách chuyên biệt ưu tiên về phát triển giáo dục và đào tạo đối với đồng bào DTTS và vùng DTTS&MN; Thực trạng và đề xuất giải pháp đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước”.
3. Chính phủ (2020). Nghị định số 141/NĐ-CP ngày 8/12/2020 quy định chế độ cử tuyển đối với học sinh, sinh viên DTTS.
4. Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa XV (2024). Kết quả Giám sát chuyên đề “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về công tác cán bộ người dân tộc thiểu số, giai đoạn 2016-2023”.