Đông Nam Á là một khu vực có nền văn hóa cổ xưavới đặc điểm là “thống nhất từ ngọn nguồn và đa dạng trong quá trình lịch sửphát triển”, hội tụ cả nét văn hóa Đông và Tây. Đông Nam Á nằm ở phía Đông Namlục địa châu Á, có phạm vi lãnh thổ gồm hai phần là Đông Nam Á lục địa hay còngọi là Bán đảo Trung Ấn (Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam) và ĐôngNam Á hải đảo hay còn gọi là Quần đảo Mã Lai (Indonesia, Malaysia, Philippines,Brunei, Singapore và Timor Leste). Bên cạnh đó, Đông Nam Á vốn có địa hìnhphong phú với núi rừng, đồng bằng và biển cả đan xen nhau, tạo nên ba yếu tốtương ứng là văn hóa núi, văn hóa đồng bằng và văn hóa biển trong văn hóa khu vực.Nằm án ngữ trên con đường hàng hải nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương,Đông Nam Á được xem là cầu nối giữa các quốc gia như: Trung Quốc, Nhật Bản và ẤnĐộ, cũng như là cửa ngõ của các nền văn minh, văn hóa lớn trên thế giới giaolưu qua lại, tạo cơ hội để các nước trong khu vực tiếp cận với thế giới bênngoài.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tôn giáo là một phần của văn hóa, thậm chí còn được đánh giá là một phần đầy đủ của văn hóa. Tôn giáo còn là một bộ phận cấu thành của xã hội, các thể chế quan liêu của nó vốn là những điểm thu hút đối với quyền lực kinh tế và chính trị trong xã hội đó. Do vậy, khi nói đến việc xây dựng một cộng đồng văn hóa - xã hội thì không thể không đề cập đến yếu tố tôn giáo. Theo khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Pew thực hiện năm 2012, Đông Nam Á có chỉ số đa dạng tôn giáo cao bậc nhất thế giới. Sự đa dạng này xuất phát từ quá trình du nhập của các tôn giáo do vị trí địa lý và quá trình phát triển lịch sử của khu vực. Chính quá trình phát triển lịch sử của các quốc gia, đặc biệt là trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XX đã khiến tính đa dạng tôn giáo của Đông Nam Á ngày càng chuyển biến phức tạp không chỉ ở cấp độ quốc gia mà còn ở cả cấp độ khu vực.
Các tôn giáo lớn trên thế giới đều có mặt ở khu vực Đông Nam Á, ban đầu là Ấn Độ giáo và đạo Phật, sau đó là đạo Hồi và đạo Thiên Chúa. Có thể thấy, lịch sử phát triển của khu vực Đông Nam Á gắn liền với lịch sử du nhập và phát triển của các tôn giáo trong khu vực. Tuy rằng thời điểm du nhập và sự lớn mạnh của các tôn giáo có sự khác biệt, nhưng đều có một đặc điểm chung là: khi thâm nhập khu vực Đông Nam Á, các tôn giáo này đã không còn giữ được “nguyên gốc” của nó về mặt thần học, mà đã “dung hòa” dưới sự tác động của các nền văn hóa truyền thống bản địa, do vậy, sự đa dạng diễn biến ngày càng phong phú và phức tạp hơn.
2. ẤN ĐỘ GIÁO
Văn hóa Ấn Độ đã thâm nhập các nước Đông Nam Á từ trước Công nguyên chủ yếu qua con đường buôn bán và truyền giáo. Ngoài việc tiếp nhận mô hình tổ chức nhà nước và xã hội theo kiểu Ấn Độ thì thủ lĩnh các bộ lạc ở Đông Nam Á còn tiếp thu cả hệ thống tôn giáo lớn trên cơ tầng của văn hóa bản địa Đông Nam Á. Các dân tộc ở khu vực không bị Ấn Độ hóa hoàn toàn đã biến hóa cho phù hợp với nếp sống và tập quán địa phương. Người ta đã tìm thấy những chứng tích từ thời tiền sử về sự giao thương giữa Ấn Độ và Đông Nam Á, mà trước tiên là với Indonesia. George Coedès cho rằng, sự truyền bá nền văn hóa Ấn Độ là kết quả của việc Ấn Độ tăng cường buôn bán với Đông Nam Á vào thời kỳ đầu sau Công nguyên.
Ảnh hưởng của Ấn Độ giáo đối với Đông Nam Á thể hiện rõ nhất qua việc thờ hai vị thần Siva và Vishnu. Nhưng từ sau thế kỷ thứ X thì Ấn Độ giáo dần dần suy yếu. Nhiều bằng chứng cho thấy, ngay từ thế kỷ VIII, đạo Phật đã bắt đầu xâm lấn miền Trung Java và đẩy lui đạo thờ thần Siva. Từ năm 929-1222, việc chuyển trung tâm quyền lực xuống lưu vực sông Brantas đã làm suy yếu quyền lực của Ấn Độ giáo ở khu vực đảo Java, nhưng lại làm gia tăng ảnh hưởng của văn hóa Java bản địa. Sau nhiều thăng trầm chính trị, đạo thờ thần Siva quay trở lại miền Trung Java, cộng sinh với Phật giáo, Ấn Độ giáo và duy trì mối quan hệ tốt đẹp. Như vậy, Ấn Độ giáo đã được các cư dân Đông Nam Á tiếp nhận và điều chỉnh quan niệm, bản địa hóa cho phù hợp với tập quán văn hóa. Điều này diễn ra khá rõ nét ở vùng Đông Nam Á lục địa và hai nước hải đảo Indonesia và Malaysia khoảng từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ X, tồn tại song song, thậm chí là dung hòa với đạo Phật và các tín ngưỡng tôn giáo đã tồn tại trước đây.
3. PHẬT GIÁO
Phật giáo du nhập vào Đông Nam Á từ khá sớm nhưng thâm nhập từng quốc gia vào những thời gian không như nhau và bằng những con đường khác nhau. Phật giáo Nam tông/Nguyên thủy (Hinayana/Theravada) và Bắc tông (Mahayana) cùng lúc hoặc từng lúc giữ những vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Đông Nam Á. Phật giáo được truyền bá vào Đông Nam Á khoảng thế kỷ thứ II sau Công nguyên. Phật giáo đã trực tiếp từ Ấn Độ và từ Tây Tạng truyền vào phía Bắc, do thương nhân Ấn Độ và tăng đồ Phật giáo Tiểu thừa đi xuống phía Nam. Đạo Phật được truyền bá vào khu vực Đông Nam Á chủ yếu bằng con đường truyền giáo hoặc giao lưu văn hóa, quan hệ thương mại. Lúc đầu, Phật giáo từ Ấn Độ trực tiếp thâm nhập các nước vùng ven bờ biển phía Tây của Đông Nam Á. Sau đó, một số nước tiếp nhận Phật giáo gián tiếp qua một nước trung gian khác. Đây cũng là một nét đặc biệt của Phật giáo ở Đông Nam Á.
Điểm đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á là Ấn Độ giáo và đạo Phật dường như có sự dung hòa đan xen nhau, cộng thêm các quan điểm và tập quán tôn giáo bản địa sẵn có, tạo thành một “bản sắc tôn giáo” rất riêng của khu vực Đông Nam Á. Hall đã mô tả sự cộng sinh của các tôn giáo này ở khu vực Đông Nam Á như sau: “Trong thế kỷ IX và X, đạo thờ thần Siva chiếm ưu thế. Vào thế kỷ XII, đạo thờ thần Vishnu đã đủ mạnh để kích thích người ta xây dựng các công trình lớn, mà ví dụ điển hình chính là đền Angkor Wat. Nhưng đạo Phật bao giờ cũng có tín đồ và vì tất cả các tôn giáo này đều du nhập từ bên ngoài vào nên chúng thấy nhất thiết phải duy trì lòng khoan dung đối với nhau. Hơn thế nữa, có nhiều sự hòa hợp giữa các tôn giáo bởi vì thuyết vật linh và thờ cúng Tổ tiên vẫn tiếp tục là tôn giáo thật sự của đại chúng”. Như vậy, Phật giáo Đông Nam Á không tồn tại một cách thuần chất mà hài hòa giữa những yếu tố của tín ngưỡng bản địa và tàn dư văn hóa của các tôn giáo trước nó. Sự đan xen hòa hợp, dung nạp giữa các yếu tố văn hóa và tôn giáo trên đây đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho Phật giáo ở Đông Nam Á. Chính vì vậy, Phật giáo tồn tại và phát triển, trở thành tôn giáo chính và có vai trò hết sức to lớn trong đời sống văn hóa, xã hội Đông Nam Á cho đến ngày nay.
4. ĐẠO HỒI
Tuy đạo Hồi du nhập Đông Nam Á hơi muộn, từ khoảng thế kỷ thứ X-XI, đến vương quốc cổ Champa rồi truyền bá sang Java (Indonesia) vào khoảng thế kỷ XIII - XIV. Sau đó là các nơi khác ở Đông Nam Á từ thế kỷ XV, song vẫn có không gian để truyền bá và phát triển do ở các nước Ấn Độ giáo và Phật giáo mặc dù đã phổ biến từ trước, nhưng lại bị mất vai trò qua các cuộc biến động từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV. Vào thế kỷ XV, các quốc gia theo đạo Hồi vùng Đông Nam Á hải đảo gắn kết với nhau chủ yếu bằng quan hệ thương mại. Lúc này, Malacca là trung tâm thương mại quan trọng nhất Đông Nam Á và là nơi truyền bá đạo Hồi chủ yếu. Tiến trình “Hồi giáo hóa” lúc bấy giờ và sau đó là một sự củng cố không đều và không hoàn tất thông qua việc cải đạo và chinh phục các đảo nằm giữa trong nội địa các đảo, mở rộng “vùng giáp ranh Hồi giáo” dọc theo các tuyến đường buôn bán hiện có.
Trường hợp đạo Hồi du nhập đảo Java (Indonesia), về mặt thời điểm và quá trình vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, gây tranh cãi, tuy nhiên quan điểm được đồng tình nhiều nhất là quan điểm của Berg (1955) cho rằng: các yếu tố văn hóa Java ngày nay là sản phẩm của quá trình tiến hóa liên tục, rằng những gì thực sự diễn ra là mẫu hình văn hóa Java dần dần hấp thụ các yếu tố của Ấn Độ giáo, Phật giáo và về sau đã hấp thụ những yếu tố của văn minh châu Âu. Cho đến năm 1511, khi hoàn toàn rơi vào tay Bồ Đào Nha thì Malacca lại trở thành trung tâm để Bồ Đào Nha tấn công trở lại đạo Hồi. Tuy nhiên, đạo Hồi chưa bao giờ mất đi vị trí tiên phong của mình tại Indonesia. Các nhà buôn Hồi giáo khi bị đuổi ra khỏi Malacca đã di chuyển đến Aceh (lúc này đang là một quốc gia hưng thịnh) định cư. Vào thế kỷ thứ XVI, Aceh đã sớm trở thành trung tâm xuất, nhập khẩu quan trọng nhất trong hoạt động giao thương của người Ấn Độ và người đạo Hồi Tây Á với quần đảo Indonesia và trở thành trung tâm nghiên cứu đạo Hồi giống như Malacca. Khi người Bồ Đào Nha tấn công, Tiểu vương Mahmud của Malacca đã chạy sang eo biển Singapore lập đại bản doanh. Và sau đó, khi cuộc tấn công của người Bồ Đào Nha thành công, các nhà buôn Hồi giáo đã phải chuyển sang Brunei nằm ở bờ biển phía Nam của Borneo và biến quốc gia này trở thành trung tâm truyền bá Hồi giáo mới. Như vậy, các cộng đồng Hồi giáo ở Brunei và Singapore cũng được hình thành trong quá trình chung như ở các nước hải đảo Indonesia và Malaysia. Trên lục địa Đông Nam Á vào thế kỷ XVII, đạo Hồi đã có vị trí tại quốc gia Champa ven biển, tại các cảng của vương quốc Ayuthia, lan rộng sang Bengal, đến vương quốc Arakan ở rìa nước Miến Điện hiện đại và cắm rễ ở vùng Mã Lai.
Nhìn chung, Hồi giáo ở Đông Nam Á có sự thống nhất cao và mang tính khu vực rất rõ rệt. Quá trình Hồi giáo hóa ở Đông Nam Á mang tính chất ôn hòa, chủ yếu thông qua giao lưu buôn bán, tiếp xúc văn hóa giữa các cư dân địa phương với các thương gia Hồi giáo đến từ Ả Rập, Ấn Độ, Trung Quốc, Ba Tư,… Khi đến đây, Hồi giáo không những không hủy bỏ hoàn toàn những yếu tố văn hóa bản địa mà ngược lại đã tự biến đổi để hòa hợp với môi trường mới, từ bỏ những yếu tố khắt khe trong giáo lý cũng như trong thực hành tôn giáo và tiếp nhận nhiều yếu tố văn hóa bản địa, có đặc trưng ôn hòa, ít chịu ảnh hưởng của tư tưởng quá khích, cực đoan. Đây là điểm đặc biệt khiến cho nền văn hóa đạo Hồi ở khu vực Đông Nam Á có nhiều nét khác biệt với nền văn hóa đạo Hồi ở Trung Đông.
5. CÔNG GIÁO
So với các tôn giáo có mặt ở Đông Nam Á thì Công giáo xuất hiện muộn hơn. Chính quyền thực dân ở nhiều nước châu Âu tích cực mở rộng thuộc địa ở các vùng đất mới từ cuối thế kỷ XVI: cuộc thám hiểm của Vasco da Gama (1469-1524) qua Ấn Độ đến miền duyên hải Coromandel, Indonesia, Macca (nay thuộc Malaysia); Ferdinand Magellan vượt qua Thái Bình Dương đặt chân lên Samoa (nay thuộc Philippines) năm 1520. Theo truyền thuyết thì một trong 12 môn đệ của Giê-su là Tôma đã đến truyền giáo tại Ấn Độ từ thế kỷ I nhưng các sử liệu đáng tin cậy nói rằng Công giáo đến đây từ thế kỷ XV qua các nhà truyền giáo Dòng Đa Minh của Bồ Đào Nha, sau đó truyền sang khu vực Á Đông rồi vào Đông Nam Á. Đến nửa sau thế kỷ XVI, Tây Ban Nha đã chiếm đóng toàn bộ Philippine mà hầu như không phải đổ máu. Điều này xảy ra chủ yếu bởi người chỉ huy đoàn viễn chinh của Tây Ban Nha vào khu vực này tin rằng sự thống trị của họ đối với mảnh đất này nên thông qua sự huấn thị của Giáo hoàng, nghĩa là họ trở thành những tín đồ Công giáo, chứ không phải bằng phương pháp thập tự chinh. Điều may mắn cho các nhà truyền giáo của Công giáo là đạo Hồi bắt đầu lan sang miền Nam Philippines, cả nhà thờ và nhà nước vẫn hoàn toàn phụ thuộc và ủng hộ lẫn nhau để phát triển.
Vào thế kỷ thứ XV, đạo Hồi du nhập đảo Amber (một phần của đảo Maluku, Indonesia) thông qua con đường bành trướng chính trị; đầu thế kỷ thứ XVI thì người Bồ Đào Nha chiếm được chỗ đứng và truyền bá Công giáo khắp miền Nam đảo Maluka, nhưng đến giữa thế kỷ XVII, người Hà Lan đã hất cẳng người Bồ Đào Nha và chiếm khu vực này. Mặc dù vậy, nền văn hóa truyền thống nơi đây không hề bị mai một mà chỉ bị chôn vùi dưới các nền văn hóa mới là Công giáo và Hồi giáo. Vì vậy, ở Amber không chỉ tồn tại sự căng thẳng ngấm ngầm giữa phong tục truyền thống và các tôn giáo mới mà còn có sự chia rẽ giữa cộng đồng theo Công giáo và cộng đồng theo đạo Hồi. Năm 1950, căng thẳng giữa Amber và Indonesia bị đẩy lên khi Amber quyết định tuyên bố công khai nền độc lập của Nam Maluku, lấy tên là “Cộng hòa Nam Maluku” (Republic Maluku Selatan). Tuy nhiên, cuối năm 1950, Indonesia đã kiểm soát được Amber; năm 1951 số đông người Amber theo Công giáo đã được đưa sang Hà Lan và cho đến nay họ vẫn nuôi nguyện vọng lập một nước Nam Maluku độc lập. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử và những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau ở mỗi nước song Công giáo vẫn bám rễ, phát triển ở Đông Nam Á và để lại nhiều dấu ấn trong nền văn hóa - xã hội các nước này, mặc dù, chúng không có được sự ảnh hưởng sâu sắc như Phật giáo ở Thái Lan, Campuchia, Lào, Myanmar, hay như Hồi giáo ở Indonesia và Brunei.
Trước khi Đông Nam Á chịu những ảnh hưởng ban đầu của các nền văn hóa - tôn giáo lớn như Ấn Độ, Trung Quốc, khu vực này đã có một nền văn minh của riêng mình. Do vậy, các tôn giáo lớn khi du nhập đã hòa đồng với những quan niệm và tập tục về tôn giáo của các thời đại trước và bị biến đổi sâu sắc. Như vậy, đặc trưng tôn giáo ở Đông Nam Á có thể tóm lại trong một cụm từ là “thống nhất trong đa dạng”.
6. KẾT LUẬN
Ngoài các tôn giáo lớn nêu trên, ở Đông Nam Á còn mang nhiều màu sắc của các tôn giáo khác. Điển hình như tại Singapore, hệ tư tưởng Nho giáo được nâng lên gần như là hệ tư tưởng của đất nước. Ấn Độ giáo hiện nay vẫn là tôn giáo chính ở khu vực đảo Bali của Indonesia, còn một bộ phận lớn người Chăm ở vùng Nam Trung Bộ Việt Nam thì thờ phụng các thần và thực hành nghi lễ của đạo Bà-la-môn. Ngoài ra, còn phải kể đến các tôn giáo nguyên thủy hiện vẫn được các dân tộc thiểu số ở miền núi các nước Đông Nam Á thực hành như Vật linh giáo, Tô Tem giáo, tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ cúng Tổ tiên,... Với diện tích hơn 4,5 triệu km và dân số hơn 600 triệu người tính đến năm 2017, Đông Nam Á được đánh giá là khu vực hiếm có trên thế giới với mật độ tôn giáo dày đặc.
Tài liệu tham khảo
1. Xem Trần Khánh (Chủ biên): Những vấn đề chính trị kinh tế Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
2. Xem George Coedès.
3. Hall D.G.E: Lịch sử Đông Nam Á, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.
4. Christie C.J: Lịch sử Đông Nam Á hiện đại, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
5. TS. Trần Thanh Huyền: Đa dạng tôn giáo và tiến trình xây dựng cộng đồng văn hóa - xã hội ASEAN (ASCC), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2019.