Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Dân tộc, tôn giáo đồng hành cùng đất nước

TS. Phú Văn Hẳn, Trường Đại học Hùng Vương TP. Hồ Chí Minh; ThS. Nguyễn Duy Dũng, Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo Thượng tá, ThS. Hoàng Đức Thành, Học viện Quốc phòng, Bộ Quốc phòng - 16:49, 05/03/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, sự gắn bó, đồng hành giữa các dân tộc và tôn giáo với vận mệnh quốc gia - dân tộc luôn là một nét đặc sắc, thể hiện sinh động sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với yêu cầu cao về hội nhập quốc tế, phát triển bền vững và giữ vững ổn định chính trị - xã hội, vai trò đồng hành của các dân tộc và tôn giáo càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Từ khóa: Dân tộc, tôn giáo; Đồng hành cùng đất nước; Đoàn kết dân tộc; Dân tộc thiểu số; Chính sách dân tộc; Chính sách tôn giáo.

1. Đặt vấn đề

Việt Nam là một quốc gia thống nhất, nhưng lại mang trong mình sự đa dạng về văn hóa, dân tộc và tôn giáo. Với 54 dân tộc anh em cùng chung sống lâu đời, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, với hơn 14 triệu người (chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước), sinh sống thành cộng đồng, cư trú xen kẽ, tập trung chủ yếu ở các khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, duyên hải miền Trung và Tây Nam Bộ (Hầu A Lềnh, 2025). Bên cạnh đó, với trên 27,7 triệu tín đồ (Hạ Anh, 2025) của các tôn giáo khác nhau, đó không chỉ là một đặc điểm nhân khẩu học, mà còn là nền tảng văn hóa - xã hội sâu rộng, hình thành nên bản sắc riêng biệt của đất nước ta. Trong suốt chiều dài lịch sử, dù phải đối mặt với chiến tranh, thiên tai hay biến động kinh tế, chính sự đoàn kết của các dân tộc, tôn giáo đã trở thành sợi dây bền chặt nối kết lòng dân, giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc, yếu tố có tính quyết định trong mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Ngày nay, trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với những yêu cầu cao hơn về đổi mới mô hình tăng trưởng, hội nhập quốc tế sâu rộng và bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, thì sự đồng hành của các dân tộc, các tôn giáo không chỉ là một đòi hỏi tất yếu, mà còn là động lực chiến lược để phát triển nhanh và bền vững. Những đóng góp thiết thực, thầm lặng nhưng đầy ý nghĩa của đồng bào dân tộc và tín đồ tôn giáo trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh những năm qua chính là minh chứng sống động cho tinh thần “đồng hành cùng dân tộc” trong thời kỳ mới.

Cộng đồng các dân tộc Việt Nam tiến bước dưới bóng cờ Tổ quốc
Cộng đồng các dân tộc Việt Nam tiến bước dưới bóng cờ Tổ quốc

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn những thách thức không nhỏ: khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và vùng đồng bằng; nguy cơ bị lợi dụng tôn giáo - sắc tộc để chia rẽ khối đại đoàn kết; nhận thức lệch lạc về quyền tự do tín ngưỡng trong một bộ phận người dân; và đặc biệt là sự tác động ngày càng tinh vi của các thế lực thù địch qua không gian mạng…

Trong bối cảnh đó, việc nhìn nhận lại một cách sâu sắc vai trò, vị trí, đóng góp và tiềm năng của cộng đồng các dân tộc, tôn giáo trong công cuộc phát triển đất nước hiện nay là điều cần thiết. Không chỉ để đánh giá đúng thực trạng, mà còn để từ đó khơi dậy, phát huy nội lực, củng cố niềm tin, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nền tảng quan trọng nhất để xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Dân tộc, tôn giáo: Một phần máu thịt của cộng đồng quốc gia - dân tộc Việt Nam

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh một điều giản dị mà thiêng liêng: mọi thắng lợi của đất nước đều bắt nguồn từ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong khối đại đoàn kết đó, cộng đồng các dân tộc thiểu số và các tôn giáo không phải là “một bộ phận bên ngoài” hay “khác biệt” trong cấu trúc dân tộc - quốc gia, mà chính là một phần máu thịt, là thành tố không thể tách rời trong dòng chảy của lịch sử, của văn hóa, và của hồn cốt dân tộc Việt Nam.

Việt Nam - một quốc gia thống nhất trong đa dạng, là nơi sinh sống hòa thuận của 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc có tiếng nói riêng, phong tục riêng, văn hóa riêng, nhưng tất cả đều có chung một tình yêu đất nước, một lòng hướng về cội nguồn. Từ miền núi phía Bắc đến đồng bằng sông Cửu Long, từ các buôn làng Tây Nguyên đến các hải đảo xa xôi, đâu đâu cũng thấy sự gắn bó bền chặt giữa các cộng đồng người Việt, Thái, Mường, Mông, Dao, Khmer, Chăm, Tày, Nùng… Họ cùng lao động, cùng dựng xây, cùng chia sẻ gian khó, cùng hy sinh khi Tổ quốc lâm nguy.

Song hành với đó, đời sống tôn giáo, tín ngưỡng cũng là một phần không thể thiếu trong tinh thần của người Việt. Phật giáo, Công giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Tin Lành… và nhiều tôn giáo khác không chỉ tồn tại như niềm tin cá nhân, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên hệ giá trị đạo đức, chuẩn mực xã hội và bản sắc văn hóa dân tộc. Nơi đâu có ngôi chùa làng, có mái nhà thờ, có thánh đường uy nghi hay những đền, miếu dân gian, nơi đó còn có tiếng chuông nhắc nhở lòng nhân ái, sự bao dung, vị tha, hướng thiện, những phẩm chất cốt lõi nuôi dưỡng đời sống tinh thần dân tộc Việt Nam.

Từ trong quá khứ, khi đất nước bị xâm lăng, chính những người dân tộc thiểu số, những tín đồ tôn giáo đã không đứng ngoài cuộc. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, có biết bao nhiêu bà con dân tộc miền núi sẵn sàng gùi gạo, che chở cán bộ, dốc sức bảo vệ cách mạng. Biết bao nhiêu tín đồ tôn giáo đứng lên đấu tranh giành độc lập, yêu nước bằng cả đức tin lẫn hành động. Những tấm gương như Anh hùng Núp (người Ba Na), Anh hùng Cù Chính Lan (người dân tộc Thái), hay Linh mục Nguyễn Văn Vang - người từng bị thực dân Pháp bắt giam vì nuôi giấu cán bộ cách mạng… mãi mãi là minh chứng hùng hồn cho mối liên kết bền vững giữa dân tộc, tôn giáo và vận mệnh của đất nước.

Trong hiện tại, khi đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, đồng bào dân tộc và tôn giáo không chỉ tiếp tục sống tốt đời đẹp đạo, mà còn đóng góp thiết thực cho sự nghiệp xây dựng quê hương. Họ là những người thầy thuốc khám bệnh từ thiện, là những bà con dân tộc làm du lịch cộng đồng, gìn giữ môi trường sinh thái. Họ là những linh mục vận động giáo dân không xả rác ra biển, là những vị sư thầy nuôi trẻ mồ côi, là những già làng gương mẫu đứng ra hòa giải xóm làng, gìn giữ an ninh thôn bản. Ở họ, đạo đức tôn giáo hòa quyện với đạo lý dân tộc, cùng hướng về mục tiêu: xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, nhân văn hơn.

Không thể phủ nhận rằng chính từ sự hòa quyện hài hòa giữa yếu tố dân tộc, tôn giáo và truyền thống yêu nước đã tạo ra một sức mạnh mềm đặc biệt của Việt Nam. Đó là sức mạnh của lòng tin, của sự gắn bó cộng đồng, của văn hóa trọng nghĩa tình và tinh thần “lá lành đùm lá rách”. Đó cũng là “chất keo” cố kết xã hội, đặc biệt quý báu trong bối cảnh hiện nay khi những giá trị nhân văn đang đứng trước không ít thách thức của mặt trái toàn cầu hóa, của chủ nghĩa cá nhân cực đoan, của sự chia rẽ và cực đoan hóa tôn giáo mà nhiều nơi trên thế giới đang phải đối mặt.

2.2. Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước: Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và phát huy sức mạnh cộng đồng

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam ghi nhận, bảo vệ và tôn trọng. Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định: tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân. Chính từ quan điểm này, một hệ thống chính sách, pháp luật ngày càng hoàn thiện, đồng bộ và nhân văn đã được triển khai nhằm vừa bảo đảm quyền tự do tôn giáo, vừa phát huy vai trò tích cực của các tổ chức tôn giáo, các chức sắc và tín đồ trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Một là, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt: Tôn trọng - Bảo đảm - Đoàn kết - Phát huy.

Hiến pháp năm 2013 và đặc biệt là Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 đã xác lập rõ ràng khung pháp lý đầy đủ cho quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đây là lần đầu tiên Việt Nam có một đạo luật chuyên biệt, điều chỉnh toàn diện về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, thể hiện rõ tinh thần thượng tôn pháp luật và cam kết bảo vệ quyền con người của Nhà nước.

Trong đó Luật nêu rõ: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; có quyền theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật” (Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, 2016).

Từ cơ sở pháp lý này, hàng loạt các nghị định, thông tư hướng dẫn đã được ban hành nhằm cụ thể hóa quyền và nghĩa vụ của các tổ chức tôn giáo, tạo hành lang pháp lý thông thoáng, minh bạch, góp phần giảm thiểu sự can thiệp hành chính không cần thiết, tăng cường tính tự chủ và trách nhiệm của các tổ chức tôn giáo.

Hai là, tôn giáo không đứng ngoài cuộc - Đảng và Nhà nước không đứng ngoài niềm tin của Nhân dân.

Thực tiễn cho thấy, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện để các tôn giáo phát triển lành mạnh, góp phần vào ổn định chính trị, trật tự xã hội và phát triển kinh tế, văn hóa, đạo đức trong cộng đồng.

Đến nay, cả nước có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đa dạng và sôi nổi với hơn 95% dân số theo tín ngưỡng, tôn giáo. 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động với trên 27,7 triệu tín đồ (Hạ Anh, 2025) (chiếm khoảng 27% dân số).

Trong đó, đặc biệt có hơn 60.000 chức sắc và gần 30.000 cơ sở thờ tự được công nhận hoạt động hợp pháp. Tất cả các tổ chức tôn giáo lớn đều có hệ thống đào tạo, cơ sở vật chất và không gian sinh hoạt riêng, được pháp luật bảo hộ.

Không chỉ được tạo điều kiện về hành chính, các tôn giáo còn được Nhà nước hỗ trợ trong các hoạt động từ thiện, y tế, giáo dục, bảo tồn di sản văn hóa, tham gia các phong trào thi đua yêu nước. Đặc biệt, trong các đợt phòng chống dịch COVID-19 vừa qua, hình ảnh các tăng ni, linh mục, tín đồ tôn giáo tình nguyện phục vụ tuyến đầu đã để lại dấu ấn đẹp trong lòng Nhân dân cả nước.

Ở nhiều nơi, chức sắc tôn giáo không chỉ là người chăm lo đời sống tinh thần cho tín đồ, mà còn là cầu nối tin cậy giữa Đảng, chính quyền với Nhân dân. Những mô hình, như: “Xứ đạo an toàn về an ninh trật tự”, “Chùa cảnh quan xanh - sạch - đẹp”, “Tín đồ tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo”... đang phát huy hiệu quả tích cực, thể hiện rõ vai trò cộng đồng của các tôn giáo.

Ba là, đoàn kết dân tộc - tôn giáo: Không chỉ là khẩu hiệu, mà là giá trị cốt lõi của chính sách phát triển.

Một trong những nét đặc biệt của chính sách tôn giáo tại Việt Nam là gắn chặt với chính sách dân tộc, đặt trong tổng thể chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, nền tảng vững chắc cho ổn định chính trị và phát triển bền vững.

Trong thực tiễn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cũng là nơi có nhiều tôn giáo tồn tại và phát triển. Ở nhiều địa phương, chính quyền đã phối hợp chặt chẽ với chức sắc tôn giáo, người có uy tín để vận động bà con từ bỏ tập tục lạc hậu, bài trừ mê tín, ngăn chặn các hoạt động truyền đạo trái phép, đồng thời phát triển kinh tế, gìn giữ bản sắc văn hóa. Nhờ đó, không ít địa bàn từng là “điểm nóng” về dân tộc, tôn giáo đã trở thành “điểm sáng” trong xây dựng nông thôn mới, phát triển cộng đồng, bảo đảm an ninh trật tự.

Bốn là, chính sách đúng, nhưng cần đồng hành bằng thực tiễn sống động và niềm tin bền vững.

Mặc dù, chính sách về dân tộc và tôn giáo của Việt Nam được quốc tế ghi nhận ngày càng tiến bộ và phù hợp với các chuẩn mực về quyền con người, nhưng vẫn còn không ít thách thức trong quá trình triển khai ở cơ sở.

Vì vậy, để chính sách thực sự đi vào lòng dân, chúng ta rất cần sự đồng hành từ nhiều phía, như: (1) Sự chủ động của chính quyền các cấp trong lắng nghe, đối thoại, giải quyết thấu tình, đạt lý; (2) Sự chia sẻ, hợp tác và trách nhiệm xã hội của các tổ chức tôn giáo; (3) Và hơn hết, là niềm tin của người dân rằng Nhà nước luôn đặt quyền lợi chính đáng của Nhân dân, dù là ai, thuộc tôn giáo nào - lên hàng đầu.

2.3. Đồng hành cùng đất nước: Vai trò và đóng góp thiết thực của các tổ chức tôn giáo; các dân tộc trong giai đoạn hiện nay

Trong các giai đoạn lịch sử trước đây, cộng đồng các dân tộc thiểu số và các tổ chức tôn giáo là lực lượng nòng cốt đồng hành với cách mạng trong công cuộc đấu tranh giành độc lập. Ngày nay, trong thời kỳ đất nước chuyển mình mạnh mẽ, hội nhập sâu rộng và đổi mới toàn diện, vai trò và đóng góp của các tôn giáo và đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng rõ nét, thiết thực và có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp phát triển bền vững quốc gia.

Thứ nhất, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc - nền tảng của ổn định và phát triển.

Thứ hai, đóng vai trò tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nông thôn mới.

Thứ ba, góp phần giữ gìn an ninh trật tự, xây dựng đời sống văn hóa và đấu tranh với các thế lực thù địch.

Thứ tư, góp phần đối thoại văn hóa, hòa giải xã hội và hội nhập quốc tế.

Thứ năm, khơi dậy sức mạnh nội sinh và tinh thần tự lực, tự cường trong mỗi cộng đồng.

2.4. Xây dựng niềm tin, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc: Trách nhiệm chung của toàn xã hội

Trong mọi thời đại, đoàn kết luôn là giá trị nền tảng, là “nguyên khí quốc gia” và là cội nguồn sức mạnh nội sinh lớn nhất của dân tộc Việt Nam. Từ chiến khu Việt Bắc đến chiến dịch Điện Biên, từ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đến công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế hôm nay, mỗi bước tiến của đất nước đều được tô đậm bằng tinh thần gắn bó keo sơn giữa các tầng lớp Nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, vùng miền, giai tầng xã hội.

Đại đoàn kết dân tộc như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định là “chủ trương chiến lược hàng đầu” và là “chính sách cơ bản nhất” để giữ vững độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong thời đại mới, khi đất nước đang đứng trước nhiều vận hội phát triển nhưng cũng không ít thách thức, việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc lại càng có ý nghĩa sống còn và phải được xác định là trách nhiệm chung, lâu dài và bền bỉ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Một là, niềm tin - Cốt lõi của khối đại đoàn kết dân tộc.

Không có sự đoàn kết thực chất nào mà thiếu niềm tin. Không có một cộng đồng phát triển nào mà thiếu sự tin cậy lẫn nhau. Trong mối quan hệ giữa Nhà nước với Nhân dân, giữa đồng bào với chính quyền, giữa các dân tộc anh em với nhau, niềm tin chính là chất keo gắn kết, là chiếc cầu nối vô hình nhưng bền chặt.

Niềm tin ấy không thể chỉ được tạo dựng từ những lời kêu gọi, khẩu hiệu hay văn kiện chính trị, mà phải được xây đắp bằng hành động thực tiễn: từ chính sách đúng đắn, công bằng, nhất quán; từ sự lắng nghe và tôn trọng lẫn nhau; từ những kết quả cụ thể trong phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng và từ thái độ ứng xử có văn hóa, có trách nhiệm giữa các thành phần trong xã hội.

Muốn xây dựng và giữ gìn niềm tin, điều đầu tiên là phải nhìn nhận tôn giáo và dân tộc thiểu số không phải là “vấn đề” để quản lý, mà là “đối tác” để đồng hành. Đó là những cộng đồng có tổ chức, có hệ giá trị, có ảnh hưởng xã hội rộng lớn và đặc biệt có khát vọng đồng hành, cống hiến vì đất nước.

Hai là, cả hệ thống chính trị phải vào cuộc bằng hành động cụ thể, thiết thực.

Chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về đại đoàn kết toàn dân tộc, về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, về phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số… đã rõ ràng, nhất quán và tiến bộ. Nhưng chính sách chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi được thực hiện bằng cái tâm của người cán bộ, bằng sự cầu thị, trách nhiệm và tinh thần “gần dân, trọng dân, vì dân”.

Ba là, tôn giáo, dân tộc cần tiếp tục phát huy vai trò chủ động, trách nhiệm với cộng đồng và đất nước.

Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là việc của chính quyền, mà còn là trách nhiệm của mỗi người dân, mỗi tổ chức xã hội, trong đó các tổ chức tôn giáo và cộng đồng dân tộc thiểu số cần chủ động, sáng tạo và tích cực hơn nữa. Trách nhiệm đó thể hiện ở: (1) Lối sống “tốt đời, đẹp đạo”, gắn đạo với đời, gắn niềm tin tôn giáo với nghĩa vụ công dân; (2) Tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; (3) Chung tay bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, hỗ trợ người nghèo, chăm lo an sinh xã hội; (4) Tham gia giáo dục đạo đức, gìn giữ văn hóa truyền thống, xây dựng gia đình hạnh phúc, làng xóm đoàn kết; (5) Và quan trọng nhất, là kiên quyết không để bị lợi dụng, không tiếp tay cho các hành vi chia rẽ dân tộc, xuyên tạc tôn giáo, kích động cực đoan.

Bốn là, xây dựng niềm tin và khối đại đoàn kết là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ và chân thành.

Không có con đường tắt nào để đi đến đồng thuận xã hội. Cũng không có cây đũa thần nào để giải quyết mọi mâu thuẫn, khác biệt về tín ngưỡng, văn hóa, lối sống. Chỉ có sự chân thành, kiên nhẫn và niềm tin vào giá trị con người, vào điểm chung của lòng nhân ái và tinh thần yêu nước, mới là “chìa khóa vàng” để mở ra cánh cửa đoàn kết, đồng thuận. Vì vậy, chúng ta cần kiên định mục tiêu xây dựng một xã hội mà ở đó: (1) Mọi công dân, dù thuộc dân tộc nào, theo tôn giáo nào hay không theo tôn giáo nào, đều có cơ hội cống hiến, phát triển và được tôn trọng; (2) Mọi tổ chức tôn giáo và cộng đồng dân tộc đều được tạo điều kiện phát triển lành mạnh, gắn bó mật thiết với cộng đồng và với Nhà nước; (3) Mọi mâu thuẫn, khác biệt đều được giải quyết trong tinh thần đối thoại, hiểu biết, và đặt lợi ích chung của quốc gia, dân tộc lên trên hết.

3. Thảo luận

Trong tiến trình phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc khơi dậy và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có vai trò đồng hành tích cực của các tôn giáo và đồng bào các dân tộc thiểu số, không chỉ là nhu cầu khách quan, mà còn là lựa chọn chiến lược đối với sự phát triển ổn định và bền vững của quốc gia.

Tuy nhiên, để chủ trương lớn đó thực sự đi vào chiều sâu, trở thành động lực và nội lực của đất nước trong thời đại hội nhập quốc tế sâu rộng, vẫn cần nhìn nhận và thảo luận một cách khách quan, thẳng thắn và toàn diện về một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn.

Thứ nhất, tôn giáo và dân tộc không phải là “vấn đề xã hội” cần quản lý, mà là “đối tác đồng hành” cần được tôn trọng và phát huy.

Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước trong suốt những năm qua chính là sự đồng hành với dân tộc và tôn giáo.

Điều đó đặt ra yêu cầu phải thực sự thay đổi cách tiếp cận trong ứng xử chính sách, không chỉ bằng văn bản pháp lý, mà bằng thái độ chính trị và hành động thực tế. Dân tộc và tôn giáo là một phần máu thịt của dân tộc Việt Nam, là lực lượng đang trực tiếp tham gia vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Họ không đứng bên lề, cũng không đòi hỏi ưu đãi, mà mong muốn được thừa nhận, được tin tưởng và được tạo điều kiện phát huy trách nhiệm xã hội của mình.

Thứ hai, không để “lỗ hổng niềm tin” hình thành từ khoảng cách giữa chủ trương và thực tế.

Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước về tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và thúc đẩy phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã được thể hiện rõ qua các văn kiện quan trọng, từ Hiến pháp đến các chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia. Việc triển khai ở cơ sở cần chuyển từ quản lý hành chính sang phục vụ Nhân dân, từ sự chỉ đạo một chiều sang sự đối thoại hai chiều, lấy sự đồng thuận, hài hòa lợi ích và tôn trọng khác biệt làm nền tảng.

Thứ ba, không để dân tộc và tôn giáo bị lợi dụng cho các mục tiêu chính trị phi nghĩa.

Một trong những nguy cơ tiềm ẩn làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc là sự lợi dụng tôn giáo, dân tộc để kích động chia rẽ, xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước, thậm chí để phục vụ cho các âm mưu chống phá, “diễn biến hòa bình” từ các thế lực thù địch.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa thông tin, mạng xã hội trở thành công cụ lan truyền mạnh mẽ cả thông tin đúng đắn lẫn xuyên tạc, việc nâng cao “sức đề kháng” trong cộng đồng tín đồ tôn giáo và đồng bào dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết. Không thể chỉ dựa vào tuyên truyền từ một phía, mà cần phát huy chính những người trong cuộc - các chức sắc, già làng, trưởng bản, người có uy tín để chủ động định hướng, đấu tranh và giữ gìn sự thật.

Thứ tư, cần một cơ chế phối hợp liên ngành, liên cấp và liên kết giữa Nhà nước, tôn giáo và cộng đồng.

Một bài học quan trọng rút ra từ thực tiễn là nơi nào chính quyền biết phối hợp chặt chẽ với tổ chức tôn giáo, người có uy tín trong đồng bào dân tộc, nơi đó ổn định và phát triển. Ngược lại, nếu thiếu cơ chế phối hợp, thiếu sự lắng nghe, thì dù chính sách có tốt đến mấy cũng khó phát huy hiệu quả.

Vì vậy, cần xây dựng và thực thi cơ chế phối hợp thường xuyên, ổn định, hai chiều giữa chính quyền các cấp với các tổ chức tôn giáo và đại diện dân tộc thiểu số. Các diễn đàn đối thoại định kỳ, hội thảo chuyên đề, mô hình “cùng nhau xây dựng chính sách” hay tổ chức “tháng hành động vì khối đại đoàn kết”... là những gợi ý thiết thực cần được thể chế hóa và nhân rộng.

Ngoài ra, cần khuyến khích sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, giới trí thức, văn nghệ sĩ, truyền thông và đặc biệt là giới trẻ trong công tác nâng cao nhận thức, truyền cảm hứng về giá trị của sự đoàn kết dân tộc – tôn giáo - quốc gia.

Thứ năm, từ chỗ “đồng hành” đến chỗ “dẫn dắt” - nâng tầm vai trò của tôn giáo và cộng đồng dân tộc thiểu số trong phát triển quốc gia.

Trong tương lai không xa, dân tộc Việt Nam sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới, nơi các yếu tố văn hóa, đạo đức, tinh thần và bản sắc cộng đồng đóng vai trò như những trụ cột mềm của phát triển bền vững. Tôn giáo và dân tộc không chỉ đồng hành, mà cần được trao vai trò “dẫn dắt mềm”, nghĩa là không áp đặt quyền lực, nhưng có khả năng tạo ảnh hưởng tích cực, bền bỉ và sâu rộng đến cộng đồng.

Các cơ sở tôn giáo có thể là trung tâm bảo tồn giá trị đạo đức và lòng nhân ái. Các bản làng dân tộc thiểu số có thể trở thành hạt nhân của kinh tế bản địa, du lịch sinh thái, khởi nghiệp sáng tạo. Những mô hình “Phật giáo và môi trường”, “Tin Lành xóa đói giảm nghèo”, “Tôn giáo với công nghệ số”, “Văn hóa dân tộc thiểu số gắn với giáo dục đạo đức”... không còn là lý tưởng, mà đang dần trở thành thực tiễn sống động ở nhiều địa phương.

Chính vì vậy, chúng ta cần nâng tầm cách tiếp cận chính sách: không chỉ để “cho phép” các cộng đồng dân tộc, tôn giáo phát triển, mà còn mời gọi họ tham gia như chủ thể của phát triển, như người bạn đồng hành đầy trách nhiệm trong tiến trình hiện đại hóa quốc gia.

Chúng ta đang sống trong một đất nước mà sự đa dạng tôn giáo và dân tộc là tài sản quý báu, không phải là thách thức. Do đó, vai trò quan trọng của dân tộc và tôn giáo cần luôn đồng hành cùng đất nước, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, phát triển đất nước ngày càng phồn thịnh.

4. Kết luận

Dân tộc và tôn giáo - hai phạm trù tưởng chừng riêng biệt nhưng lại gắn bó hữu cơ trong hành trình lịch sử của dân tộc Việt Nam. Nếu như các dân tộc thiểu số là bức tranh sống động về sự đa dạng văn hóa, thì các tôn giáo lại là nơi kết tinh giá trị đạo đức, tinh thần và lòng nhân ái của con người Việt Nam. Trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước, từ thời đại Hùng Vương cho đến thời kỳ đổi mới và hội nhập sâu rộng hôm nay, cộng đồng các dân tộc thiểu số và các tổ chức tôn giáo luôn là một phần máu thịt không thể tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nền tảng vững chắc cho sự ổn định, phát triển và trường tồn của đất nước.

Sức mạnh của khối đại đoàn kết không nằm ở sự đồng nhất tuyệt đối, mà nằm ở khả năng chấp nhận sự khác biệt trong một mẫu số chung là tình yêu nước, là khát vọng hòa bình, là trách nhiệm với vận mệnh dân tộc. Dân tộc và tôn giáo không bao giờ là yếu tố “bên lề” hay “ngoại vi” trong tiến trình phát triển, mà chính là một phần hạt nhân của sức mạnh nội sinh, là nơi gìn giữ bản sắc, đạo đức, ý chí cộng đồng, niềm tin và khát vọng hòa hợp trong lòng dân tộc.

Bên cạnh đó, cộng đồng tôn giáo và dân tộc thiểu số cũng cần tiếp tục củng cố nội lực, nâng cao trình độ dân trí, sống “tốt đời đẹp đạo”, tích cực tham gia phong trào thi đua yêu nước, xây dựng đời sống văn hóa, giữ gìn bản sắc, giữ vững lòng tin với Đảng, Nhà nước và phát huy vai trò chủ thể phát triển. Những người có uy tín trong cộng đồng, các chức sắc tôn giáo, trí thức, nghệ nhân dân tộc cần trở thành những “ngọn đèn” soi sáng tinh thần trách nhiệm công dân, phản bác lại các luận điệu chia rẽ, cực đoan, và thúc đẩy tinh thần đoàn kết trong từng bản làng, giáo xứ, xóm đạo.

Đại đoàn kết dân tộc không thể được duy trì chỉ bằng khẩu hiệu mà phải được nuôi dưỡng bằng niềm tin, đối thoại, lòng khoan dung, sự chia sẻ và cả hy sinh. Đó không phải là điểm đến, mà là một hành trình liên tục, đòi hỏi sự đồng hành lâu dài, thấu hiểu sâu sắc và đặc biệt là niềm tin vào giá trị con người Việt Nam, vốn được tôi luyện qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử.

Từ trong sâu thẳm của văn hóa dân tộc Việt, tinh thần “một cây làm chẳng nên non - ba cây chụm lại nên hòn núi cao” chưa bao giờ cũ. Đó là triết lý sống, là kim chỉ nam cho hành động hôm nay và mai sau.

Đoàn kết - đồng hành - phát triển: Con đường tất yếu để xây dựng Việt Nam hùng cường.

Trong thế giới đầy biến động và nhiều rạn nứt hiện nay, nơi mà không ít quốc gia phải đối mặt với mâu thuẫn sắc tộc, xung đột tôn giáo, thì một Việt Nam hòa bình, ổn định, tôn trọng đa dạng, biết phát huy sức mạnh cộng đồng và gắn bó chặt chẽ giữa dân tộc - tôn giáo - Nhà nước - Nhân dân chính là một hình mẫu đáng tự hào.

Hãy để các tổ chức tôn giáo, các dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc anh em cùng hát chung một bài ca về tình yêu đất nước - nơi mỗi khác biệt là một sắc màu, mỗi tín ngưỡng là một giá trị, và mỗi con người, không phân biệt gốc gác đều có chung một điểm tựa: Tổ quốc Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

1. Hạ Anh. Việt Nam có 16 tôn giáo, gần 28 triệu tín đồ. https://vietnamnet.vn/viet-nam-co-16-ton-giao-va-gan-28-trieu-tin-do-2424794.html

2. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tập I.

3. Đặng Quang Định. (2023).

4. Hiến pháp năm 2013.

5. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016.

6. Hầu A Lềnh. (2025). Phát huy vai trò của người có uy tín ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/phat-huy-vai-tro-cua-nguoi-co-uy-tin-o-vung-dong-bao-dan-toc-thieu-so-trong-phong-trao-toan-dan-bao-ve-an-ninh-to-quoc-

7. Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”

8. Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg ngày 06/03/2018 của Thủ tướng Chính phủ: Về tiêu chí lựa chọn, công nhận người có uy tín và chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số.

9. Quyết định số 28/2023/QĐ-TTg ngày 23/11/2023 của Thủ tướng Chính phủ: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg ngày 06 tháng 3 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí lựa chọn, công nhận người có uy tín và chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số.

10. Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025.

11. Nguyễn Phú Trọng. (2023). Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.