Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Đào tạo nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số - Từ chủ trương, chính sách đến thực tiễn triển khai

ThS. Trần Hồng Quỳnh* - 14:32, 24/04/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Một trong các quan điểm về công tác dân tộc trong thời kỳ mới thể hiện tại Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa IX là “quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực”. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, chất lượng nguồn nhân lực vừa là điểm nghẽn, vừa là chìa khóa để tạo đột phá. Trên cơ sở hệ thống hóa quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước và phân tích thực tiễn giáo dục đào tạo, giáo dục nghề nghiệp, giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số thời gian qua, bài viết đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra những bất cập. Từ đó, đề xuất một số giải pháp đào tạo nguồn nhân lực dân tộc thiểu số có tri thức, kỹ năng, bản lĩnh, đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Nguồn nhân lực; Dân tộc thiểu số; Giáo dục đào tạo; Chuyển đổi số.

Một trong những chính sách ưu việt về đào tạo nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số là chính sách đầu tư xây dựng phát triển hệ thống các Trường phổ thông dân tộc nội trú (Trong ảnh: Học sinh Trường phổ thông dân tộc nội trú Ea H’leo, Đắk Lắk)
Một trong những chính sách ưu việt về đào tạo nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số là chính sách đầu tư xây dựng phát triển hệ thống các Trường phổ thông dân tộc nội trú (Trong ảnh: Học sinh Trường phổ thông dân tộc nội trú Ea H’leo, Đắk Lắk)

1. Nguồn nhân lực và nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số

Theo tiếp cận kinh tế học lao động, nguồn nhân lực (NNL) được hiểu là toàn bộ dân số trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia vào quá trình sản xuất vật chất và dịch vụ, gồm: Thể lực, trí lực, trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp và kinh nghiệm lao động. Cách hiểu này nhấn mạnh con người là một loại “vốn” và đào tạo là cách đầu tư làm tăng năng suất, chất lượng nguồn vốn này.

Theo tiếp cận quản trị phát triển, NNL là tập hợp con người cùng với tri thức, kỹ năng, thái độ, động cơ và giá trị văn hóa mà họ mang vào quá trình phát triển tổ chức và xã hội. Cách hiểu này nhấn mạnh NNL không chỉ gồm sức lao động mà bao gồm phẩm chất, kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, năng lực sáng tạo.

Theo quan điểm phát triển con người, NNL là nguồn lực đặc biệt của quốc gia, bao gồm số lượng, cơ cấu và chất lượng dân số có khả năng lao động, được phát triển toàn diện về trí tuệ, kỹ năng, sức khỏe và đạo đức, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) bền vững.

Theo cách tiếp cận hành chính công - quản lý nhà nước, NNL là toàn bộ tiềm năng lao động của xã hội, bao gồm những người đang làm việc và những người có khả năng tham gia lao động trong tương lai, được xem xét cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu.

Từ các cách tiếp cận trên, NNL người dân tộc thiểu số (DTTS) được hiểu là bộ phận người DTTS trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào quá trình phát triển KT-XH, bao gồm trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, sức khỏe, tri thức địa phương, phẩm chất văn hóa và năng lực thích ứng với môi trường phát triển mới là chuyển đổi số và hội nhập kinh tế. Cách tiếp cận này đã bổ sung thêm các yếu tố về tri thức địa phương, vốn văn hóa là những thế mạnh đặc thù của người DTTS, đồng thời cho phép nhìn nhận người DTTS không phải là “đối tượng thụ hưởng”, mà là chủ thể phát triển.

2. Chính sách và kết quả phát triển nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số

Trong khoa học phát triển, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của mọi chiến lược tăng trưởng. Nếu tài nguyên thiên nhiên quyết định “điểm xuất phát” thì chất lượng NNL quyết định “tốc độ và đích đến” của một quốc gia. Những địa phương bứt phá nhanh thường không dựa vào lợi thế đất đai hay vốn đầu tư thuần túy mà dựa vào trình độ học vấn, kỹ năng nghề và năng lực đổi mới sáng tạo của người lao động. Do đó, đào tạo NNL chính là quá trình tích lũy “vốn con người”. Vốn này càng lớn, năng suất lao động càng cao, khả năng tiếp thu khoa học công nghệ càng mạnh và nền kinh tế càng có sức cạnh tranh. Ngược lại, nơi nào chất lượng NNL thấp, nơi đó dễ rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói, lao động giản đơn và phụ thuộc. Vùng đồng bào DTTS&MN hiện đang là vùng lõm phát triển của cả nước, trong đó có vấn đề chất lượng NNL thấp nhất cả nước. Chính vì vậy, đào tạo NNL người DTTS luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm. Nhiều chủ trương, định hướng lớn đã được đề ra đối với giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng NNL vùng đồng bào DTTS&MN, như: Xóa mù chữ, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; Nâng cao chất lượng hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú; hỗ trợ điều kiện học tập, ăn ở cho học sinh, sinh viên vùng đặc biệt khó khăn; Chính sách cử tuyển, dự bị đại học, đào tạo nghề cho học sinh, sinh viên DTTS; Cơ chế, chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên DTTS sau khi tốt nghiệp; Hỗ trợ học sinh DTTS về học phí, sách giáo khoa, giảng dạy tiếng DTTS; Chính sách miễn, hỗ trợ học phí, hỗ trợ ăn trưa... đưa lại những kết quả rất quan trọng.

Thứ nhất, giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông ở vùng đồng bào DTTS&MN có những chuyển biến tích cực. Chất lượng giáo dục của các trường phổ thông dân tộc nội trú dần được nâng lên. Tăng số lượng các trường đạt chuẩn quốc gia, hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú được mở rộng; Công bằng trong tiếp cận giáo dục được thực hiện; Giảm số học sinh bỏ học; củng cố, duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, nâng cao dân trí và phát triển NNL người DTTS.

Thứ hai, đối với giáo dục đại học, đã hình thành các đại học vùng, các trường khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ (Trường Đại học Tây Nguyên, Trường Đại học Tây Bắc, Đại học Thái Nguyên…); Hiện có 04 trường dự bị đại học dân tộc (Trung ương, Sầm Sơn, Nha Trang, TP. Hồ Chí Minh) và 01 trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc dạy hệ dự bị đại học, quy mô khoảng 3.000 học sinh/năm. Ngoài ra còn có khoa dự bị đại học dân tộc tại một số trường đại học (Trường Đại học Tây Nguyên, Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Trà Vinh...). Đào tạo hệ cử tuyển đã góp phần thực hiện, bảo đảm sự bình đẳng trong học tập và mục tiêu đào tạo, phát triển NNL chất lượng cao, phát triển đội ngũ trí thức người DTTS tại các địa phương, nhất là mục tiêu phát triển NNL các DTTS rất ít người. Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I từ 2021-2025 (Chương trình 1719) đã có 843 sinh viên được hỗ trợ học đại học; 315 học viên được hỗ trợ đào tạo thạc sỹ; 18 nghiên cứu sinh được hỗ trợ đào tạo tiến sỹ; 56.256 người được bồi dưỡng kiến thức dân tộc; 7.160 người được bồi dưỡng tiếng DTTS.

Thứ ba, giáo dục nghề nghiệp được đẩy mạnh từ nguồn lực của 3 Chương trình mục tiêu quốc gia: Giảm nghèo bền vững, Xây dựng nông thôn mới và Phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN. Nhiều chính sách đối với người học nghề đã tạo điều kiện phân luồng, đẩy mạnh hoạt động giáo dục nghề nghiệp, tạo việc làm bền vững cho học viên sau đào tạo, như: Chính sách ưu tiên miễn, giảm học phí cho đối tượng học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở đi học nghề, đối tượng theo học các nghề đặc thù, khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu; chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho các đối tượng thuộc gia đình hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng đặc thù như học sinh DTTS nội trú, bộ đội xuất ngũ, lao động nông thôn,…; Chính sách tuyển dụng, sử dụng, tôn vinh người lao động tốt nghiệp các trình độ giáo dục nghề nghiệp hay chính sách ưu tiên tuyển sinh đào tạo liên thông đối với học sinh đạt giải trong các kỳ thi tay nghề quốc gia, khu vực và quốc tế; chính sách đào tạo phục vụ xuất khẩu lao động…

Các chính sách đã tạo mọi điều kiện để người học phát huy năng lực, môi trường học tập, vững về kiến thức, giỏi về tay nghề, đáp ứng được với yêu cầu thực tế, công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp. Trong đó, riêng Chương trình 1719 đã hỗ trợ 1.901 mô hình đào tạo nghề, với 115.575 người lao động tham gia; 5.385 người lao động được hỗ trợ tham gia khóa đào tạo bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ và các thủ tục đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; 37.718 người lao động được hỗ trợ giới thiệu, tư vấn về đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; 8.424 cán bộ làm công tác đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài và tuyên truyền viên cơ sở ở các cấp (tỉnh, huyện, xã, thôn, bản) được hỗ trợ nâng cao năng lực... Nhiều địa phương tổ chức đào tạo nghề ngắn hạn gắn với sản xuất nông lâm nghiệp, thủ công mỹ nghệ, du lịch cộng đồng, dịch vụ. Một số mô hình đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp cho thấy hiệu quả rõ rệt, người học có việc làm ngay sau tốt nghiệp.

3. Sự cần thiết tiếp tục đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số

Phát triển con người luôn được xác định là mục tiêu cao nhất, đồng thời là động lực trực tiếp của sự phát triển đất nước. Một trong ba đột phá chiến lược được xác định từ Đại hội XIII là đột phá về NNL tiếp tục được Đại hội XIV của Đảng kế thừa, triển khai nhưng với yêu cầu mới: “Làm thật mạnh, làm thật nhanh, làm đến nơi đến chốn, vì đây là những đòn bẩy quyết định để đất nước bứt phá” [1]. Điều này cho thấy đầu tư cho NNL là đầu tư cho tăng trưởng dài hạn.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Đột phá về NNL, nhất là nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động; tăng cường năng lực số; Hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên gia, doanh nhân, nhà khoa học giỏi, công nhân kỹ thuật cao, đáp ứng yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước” [2].

Kỷ nguyên chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tri thức, hội nhập quốc tế sâu rộng đang làm thay đổi cấu trúc việc làm và tiêu chuẩn lao động. Nhiều nghề giản đơn sẽ mất đi, trong khi nhu cầu lao động có kỹ năng, có ngoại ngữ, có khả năng vận hành công nghệ tăng mạnh. Cạnh tranh nhân lực đang ngày càng khốc liệt. Bối cảnh mới đặt ra ba yêu cầu then chốt đối với NNL người DTTS: Có tay nghề vững; Có kỹ năng số; Có khả năng thích ứng và học tập suốt đời.

Tuy nhiên, khoảng cách về chất lượng NNL người DTTS so với mặt bằng chung cả nước vẫn còn đáng kể. Trình độ học vấn, tay nghề, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực công nghệ và khả năng thích ứng thị trường lao động đang còn hạn chế. Nếu không kịp thời nâng cấp chất lượng đào tạo, một bộ phận lao động DTTS có nguy cơ bị đẩy ra ngoài dòng chảy phát triển. Khi đó, khoảng cách giàu nghèo không những không được thu hẹp mà còn có thể nới rộng thêm. Vì vậy, đào tạo NNL người DTTS là cần thiết, cấp thiết và cần được nhìn nhận như một chiến lược đầu tư cho tương lai quốc gia, cho vùng đồng bào DTTS&MN.

Trong một thời gian dài, chính sách đào tạo NNL người DTTS chủ yếu mang tính hỗ trợ, như: miễn học phí, cấp gạo, trợ cấp, xây trường lớp… Cách tiếp cận này có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn xóa đói giảm nghèo, nhưng khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được xác định là đột phá phát triển đất nước trong giai đoạn mới theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị thì cách làm thuần túy hỗ trợ đã bộc lộ giới hạn, vì hỗ trợ chỉ giúp duy trì tỷ lệ đi học song chưa chắc đã giúp người lao động có việc làm tốt. Người DTTS nếu không được nâng cao về trình độ, được trang bị các kỹ năng về chuyển đổi số, khoa học công nghệ, ngoại ngữ để nâng cao năng lực cạnh tranh, thậm chí cả các kỹ năng làm dịch vụ để có thể khai thác tiềm năng văn hóa dân tộc thành một sinh kế thì sẽ khó thoát nghèo và vươn lên.

Do đó, đào tạo nguồn nhân lực người DTTS cần chuyển sang tư duy đầu tư phát triển, không chỉ bảo đảm cơ hội tiếp cận, mà phải nâng cao chất lượng; Không chỉ dạy kiến thức, mà phải rèn kỹ năng; không chỉ đào tạo theo khả năng cung ứng của nhà trường, mà theo nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Sự chuyển đổi này mang tính bản chất, từ “cho cái cần câu” sang “dạy cách sử dụng cần câu và tìm thị trường tiêu thụ cá”.

Trên cơ sở các luận điểm trên, tiếp cận đào tạo NNL người DTTS theo hướng tích hợp gồm ba trụ cột có quan hệ hữu cơ với nhau:

Thứ nhất, bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục bình đẳng. Đây là nền tảng thực hiện quyền con người trong lĩnh vực giáo dục đào tạo. Nhà nước cần tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất và tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ chi phí học tập, xóa mù chữ, phổ cập giáo dục…

Thứ hai, nâng cao chất lượng và tính phù hợp của đào tạo. Chương trình đào tạo NNL người DTTS cần gắn với nhu cầu phát triển địa phương và xu thế thị trường. Tăng thực hành, tăng kỹ năng số, kỹ năng mềm, ngoại ngữ. Đào tạo theo “địa chỉ sử dụng”.

Thứ ba, tạo sinh kế và việc làm bền vững sau đào tạo phải được xem là thước đo thực chất nhất của hiệu quả chính sách. Đào tạo chỉ có ý nghĩa khi chuyển hóa thành thu nhập ổn định, năng lực tự chủ kinh tế và khả năng đóng góp trở lại cho gia đình, cộng đồng.

Ba trụ cột này vận hành như một chuỗi liên hoàn, thiếu một khâu, chuỗi giá trị đào tạo sẽ đứt gãy. Trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực thực hiện mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao thì đào tạo NNL người DTTS càng cần phải kết nối chặt chẽ với khoa học, công nghệ, kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.

4. Một số giải pháp đào tạo nguồn nhân lực dân tộc thiểu số

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo yêu cầu: “Chú trọng giáo dục tư tưởng, truyền thống, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ, giáo dục hướng nghiệp, kỹ năng mềm; Tăng thời lượng các môn khoa học, công nghệ, tin học, nghệ thuật; Nghiên cứu đưa kiến thức về năng lực số, trí tuệ nhân tạo vào chương trình giáo dục phổ thông”, “Hoàn thành xây dựng mạng lưới trường phổ thông nội trú tại vùng đồng bào DTTS, vùng khó khăn và biên giới trước năm 2030; Mở rộng hệ thống đào tạo dự bị đại học cho học sinh người DTTS, miền núi. Bảo đảm mỗi tỉnh, thành phố có ít nhất một cơ sở giáo dục chuyên biệt tới cấp trung học phổ thông”; “Xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo nghề chất lượng cao cho đồng bào DTTS ở các ngành nghề phù hợp”.

Trên quan điểm đó, đào tạo NNL người DTTS cần thứ nhất, rà soát, điều chỉnh các chính sách cử tuyển, học bổng, hỗ trợ học nghề theo hướng tập trung, có trọng điểm. Ưu tiên ngành nghề địa phương đang thiếu nhân lực: Y tế cơ sở, giáo dục, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số.

Thứ hai, đổi mới mô hình đào tạo, chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu sử dụng lao động. Nhà trường, doanh nghiệp và chính quyền địa phương cần liên kết chặt chẽ. Doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình, tiếp nhận thực tập, tuyển dụng; Tăng thời lượng thực hành để tăng kỹ năng cho NNL.

Thứ ba, thúc đẩy kỹ năng số và giáo dục nghề nghiệp hiện đại. Đẩy mạnh phổ cập kiến thức công nghệ, thương mại điện tử, kỹ năng kinh doanh trực tuyến cho thanh niên DTTS. Đầu tư trung tâm đào tạo nghề gắn với thế mạnh vùng đồng bào DTTS&MN: Chế biến nông sản, du lịch cộng đồng, bảo tồn và phát triển nghề thủ công truyền thống, dịch vụ số.

Thứ tư, phát huy nội lực cộng đồng. Đội ngũ trí thức, người có uy tín, doanh nhân DTTS cần được khuyến khích tham gia dẫn dắt thế hệ trẻ. Chính sách chỉ là “cú hích”, khơi dậy nội lực mới là động cơ chính quyết định hiệu quả đào tạo NNL.

Thứ năm, huy động nguồn lực xã hội, đẩy mạnh hợp tác công - tư, thu hút doanh nghiệp đầu tư đào tạo và sử dụng lao động tại chỗ. Phát triển các quỹ học bổng, quỹ khởi nghiệp cho NNL người DTTS.

5. Kết luận

Đào tạo NNL người DTTS là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài và cấp bách. Đây không chỉ là vấn đề giáo dục, mà là bài toán phát triển quốc gia, phát triển vùng đồng bào DTTS&MN. NNL người DTTS không thể đứng bên lề tiến trình phát triển. Do đó, nâng cao chất lượng NNL người DTTS thông qua đào tạo có ý nghĩa quyết định và luôn cần thiết, cấp thiết để đảm bảo thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KT-XH ở vùng đồng bào DTTS&MN./.

* Viện Sáng tạo và Chuyển đổi số

Tài liệu tham khảo

1. Báo Điện tử Chính phủ (2026), Khai mạc Đại hội Đại hội XIV: Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam, https://baochinhphu.vn/khai-mac-dai hoi-xiv-tong-bi-thu-to-lam-trinh-bay-bao-cao-ve cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiv-dang-cong-san-viet nam-102260120095647096.htm

2. Chính phủ (2025), Báo cáo số 901/BC-CP ngày 10/10/2025 của Chính phủ tổng kết Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I từ 2021 đến 2025.

3. Chính phủ, Nghị quyết số 52/NQ-CP về việc đẩy mạnh phát triển NNL các DTTS giai đoạn 2026 2020, định hướng đến năm 2030.

4. GS.TS Nguyễn Thị Lan (2020), Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Kỷ yếu Hội thảo “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vùng dân tộc thiểu số và miền núi trong nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.