Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Đổi mới cách tiếp cận chính sách dân tộc giai đoạn 2026-2030 từ hỗ trợ sang tạo năng lực phát triển

TS. Hà Việt Quân* - 13:50, 27/04/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết phân tích yêu cầu đổi mới cách tiếp cận chính sách dân tộc ở Việt Nam trong giai đoạn 2026-2030 trên cơ sở tổng hợp, đối chiếu các văn kiện của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các thông tin công khai về kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025. Trong bối cảnh Quốc hội đã phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia tích hợp giai đoạn 2026-2035, bài viết lập luận rằng trọng tâm cải cách không chỉ là tăng nguồn lực mà phải chuyển từ logic “bù đắp thiếu hụt” sang logic “tạo năng lực phát triển”, lấy con người làm trung tâm, năng lực nội sinh làm nền tảng và kết quả phát triển làm chuẩn đánh giá. Bài viết đồng thời nhận diện các thách thức dự báo khi tích hợp 03 chương trình mục tiêu quốc gia thành 01 chương trình. Trên cơ sở đó, đề xuất các định hướng đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả chính sách dân tộc, thu hẹp chênh lệch phát triển và củng cố phát triển bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Phát triển dược liệu quý vùng dân tộc thiểu số và miền núi tạo sinh kế bền vững cho người dân
Phát triển dược liệu quý vùng dân tộc thiểu số và miền núi tạo sinh kế bền vững cho người dân

Từ khóa: Chính sách dân tộc; Năng lực phát triển; Quản trị theo kết quả; Vùng dân tộc thiểu số và miền núi; Chương trình mục tiêu quốc gia.

1. Đặt vấn đề

Nghị quyết số 257/2025/QH15 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) giai đoạn 2026-2035 và Nghị quyết số 424/NQ-CP của Chính phủ đã xác lập lại khuôn khổ hệ thống các chính sách dân tộc đang triển khai trong giai đoạn 2021-2025 dưới Chương trình MTQG tích hợp cho cả giai đoạn 2026-2035. Nghị định số 272/2025/NĐ-CP cung cấp căn cứ pháp lý mới cho việc phân định vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026 2030. Bối cảnh thể chế này cho thấy trọng tâm không còn chỉ là tiếp tục duy trì đầu tư, mà là thiết kế lại cách thức can thiệp chính sách để đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển nhanh và bền vững vùng đồng bào DTTS&MN.

Từ thực tiễn đó, bài viết đặt ra hai câu hỏi nghiên cứu chính. (i) Những giới hạn cấu trúc nào của chính sách dân tộc giai đoạn 2021-2025 đang cản trở việc chuyển hóa đầu tư công thành năng lực phát triển thực chất? (ii) Trong điều kiện Chương trình MTQG đã được tích hợp, đâu là những thách thức tiềm tàng và một số định hướng đổi mới phù hợp để vừa bảo đảm tính đặc thù của chính sách dân tộc, vừa nâng cao hiệu quả đầu tư công và năng lực thực thi ở địa phương?

2. Kết quả giai đoạn 2021-2025 và những giới hạn cấu trúc

Giai đoạn 2021-2025, Chương trình MTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN đã đầu tư 6.018 công trình giao thông nông thôn; cứng hóa 8.673km đường giao thông; xây dựng 442 công trình điện; 1.787 nhà sinh hoạt cộng đồng; cải tạo, sửa chữa 183 trạm y tế xã; hỗ trợ trang thiết bị cho 118 trạm y tế xã; đầu tư 629 công trình trường, lớp học. Những kết quả này đã góp phần cải thiện điều kiện tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, giảm cô lập không gian phát triển, đồng thời nâng cao năng lực cung ứng hạ tầng thiết yếu của nhiều địa phương khó khăn.

Tuy nhiên, tác động của Chương trình chưa đồng đều, chưa đủ mạnh để tạo đột phá phát triển. Còn 3/9 nhóm mục tiêu chưa hoàn thành; nhiều chỉ tiêu liên quan đến giảm số xã, thôn đặc biệt khó khăn, cải thiện hạ tầng xã hội và xử lý thiếu đất ở, đất sản xuất còn chậm. Điều này phản ánh một thực tế quan trọng: đầu tư hạ tầng và hỗ trợ đầu vào tuy cần thiết, nhưng chưa tự động chuyển hóa thành sinh kế bền vững, chất lượng nguồn nhân lực tốt hơn hay sự thu hẹp rõ rệt khoảng cách phát triển với các vùng khác.

Từ kết quả thực hiện có thể nhận diện ít nhất bốn giới hạn mang tính cấu trúc: (i) chính sách còn nghiêng về xử lý thiếu hụt tức thời hơn là bồi đắp năng lực dài hạn; (ii) nguồn lực bị chia nhỏ qua nhiều dự án, tiểu dự án và nhiều đầu mối tham gia, làm giảm khả năng tạo ra các cụm tác động đủ lớn ở từng địa bàn; (iii) mô hình quản lý còn nặng về thủ tục và kiểm đếm đầu vào, trong khi điều chỉnh chủ trương đầu tư năm 2024 cho thấy thiết kế thể chế ban đầu chưa theo kịp thực tiễn triển khai; (iv) dữ liệu phục vụ quản trị chính sách còn phân tán, đo lường kết quả cuối cùng đối với thu nhập, tiếp cận thị trường, năng lực số, chất lượng việc làm và chất lượng sống của người dân chưa thật sự đầy đủ.

Những giới hạn này cho thấy mô hình can thiệp hiện hành cần được nâng cấp. Giai đoạn 2026-2035, với cấu trúc tích hợp, nếu phân bổ ngân sách dàn trải, tiếp tục quản lý đầu vào và đánh giá chủ yếu theo kết quả giải ngân, nguy cơ lớn nhất là có nguồn lực đầu tư nhưng hiệu quả cuối cùng của chính sách đối với người dân không tương xứng.

3. Vì sao phải chuyển từ “hỗ trợ” sang “tạo năng lực phát triển”

Thứ nhất, trong điều kiện chênh lệch phát triển giữa các vùng còn lớn, chính sách chỉ bền vững khi giúp người dân và cộng đồng tự tạo ra năng lực phát triển của chính mình. Hỗ trợ đầu vào có thể giảm bớt khó khăn trước mắt, nhưng không đủ để tạo ra năng lực cạnh tranh, khả năng thích ứng thị trường, khả năng chống chịu trước biến động khí hậu, thiên tai, rủi ro sinh kế. Ngược lại, đầu tư vào giáo dục, y tế, kỹ năng nghề, tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và năng lực số có thể tạo hiệu ứng lâu dài so với các khoản hỗ trợ ngắn hạn, rời rạc.

Thứ hai, sự thay đổi của bối cảnh thể chế đòi hỏi cách tiếp cận quản trị mới. Nghị quyết số 257/2025/QH15 và Nghị quyết số 424/NQ-CP đã đưa ba chương trình MTQG vào một khuôn khổ tích hợp chung. Trong mô hình này, nếu hợp phần đặc thù đối với vùng đồng bào DTTS&MN không được thiết kế bằng logic phát triển năng lực, chính sách dân tộc rất dễ bị “hòa tan” vào các mục tiêu chung, trong khi đặc thù địa bàn, đặc thù nhóm dân tộc và đặc thù thiếu hụt phát triển vẫn còn rất sâu sắc.

Thứ ba, yêu cầu chuyển đổi mô hình quản trị nhà nước đang diễn ra đồng thời với yêu cầu đổi mới chính sách dân tộc. Quản trị hiện đại không thể dừng ở việc phân bổ ngân sách rồi kiểm tra thủ tục giải ngân mà đòi hỏi phải trả lời được chính sách đã tạo ra thay đổi gì đối với thu nhập, học vấn, dinh dưỡng, tiếp cận nước sạch, y tế, việc làm và mức độ hài lòng của người dân. Nói cách khác, chính sách dân tộc muốn hiệu quả hơn phải được quản trị theo kết quả và bằng dữ liệu, thay vì chỉ được quản lý bằng hồ sơ và quy trình hành chính.

Thứ tư, chuyển từ hỗ trợ sang tạo năng lực phát triển có ý nghĩa xã hội - chính trị sâu sắc. Cách tiếp cận này giúp biến đối tượng thụ hưởng thành chủ thể phát triển, giảm tâm lý trông chờ, thụ động; củng cố lòng tin của người dân vào hiệu quả thực chất của chính sách. Đây là hướng đi phù hợp với yêu cầu phát huy nội lực, giữ gìn bản sắc văn hóa, nâng cao năng lực cộng đồng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn phát triển mới.

4. Định hướng đổi mới chính sách dân tộc giai đoạn 2026-2030

Một là, lấy phát triển con người và năng lực nội sinh làm trung tâm. Chính sách dân tộc cần ưu tiên nhiều hơn cho giáo dục, dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe ban đầu, đào tạo nghề, năng lực số và kỹ năng tham gia thị trường. Không chỉ là xây thêm trường, lớp, trạm y tế, mà trọng tâm là nâng chất lượng học tập, dịch vụ y tế cơ sở, tỷ lệ học sinh học tiếp, khả năng tiếp cận việc làm bền vững và chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ.

Hai là, phân bổ nguồn lực theo mức độ khó khăn và khả năng tạo tác động. Ngân sách cần ưu tiên cho địa bàn biên giới, xã, thôn đặc biệt khó khăn, nhóm dân tộc còn gặp nhiều khó khăn và các địa bàn thiếu hụt nghiêm trọng về dịch vụ cơ bản. Cơ chế phân bổ cần kết hợp các tiêu chí về mức độ thiếu hụt, tính chiến lược không gian và khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa.

Ba là, chuyển mạnh sang quản trị theo kết quả. Mỗi chính sách, dự án hoặc hợp phần phải gắn với bộ chỉ tiêu đầu ra và kết quả cuối cùng có thể đo lường được, chẳng hạn như thu nhập bình quân hộ, tỷ lệ hộ có sinh kế ổn định, tỷ lệ lao động có việc làm bền vững, tỷ lệ tiếp cận nước sạch, giảm thiếu đất ở, đất sản xuất, tỷ lệ học sinh hoàn thành bậc học, tỷ lệ cán bộ cơ sở đạt chuẩn và mức độ hài lòng của người dân. Khi các chỉ tiêu này trở thành căn cứ điều hành và giám sát, động lực thực thi ở địa phương sẽ thay đổi theo hướng chú trọng chất lượng hơn là hình thức.

Bốn là, xây dựng nền tảng dữ liệu số liên thông về công tác dân tộc. Dữ liệu hộ, thôn, xã, nhóm dân tộc, mức độ thiếu hụt dịch vụ và kết quả thực hiện chính sách cần được chuẩn hóa, cập nhật và kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia có liên quan. Một nền tảng dữ liệu dùng chung không chỉ phục vụ báo cáo mà còn hỗ trợ cảnh báo sớm, phân bổ nguồn lực chính xác hơn, giám sát theo thời gian thực và nâng cao trách nhiệm giải trình của các chủ thể thực hiện.

Năm là, thiết kế chính sách theo hệ sinh thái phát triển liên kết. Hỗ trợ phát triển sản xuất chỉ phát huy tác dụng khi đi cùng tín dụng, chuyển giao kỹ thuật, tổ chức cộng đồng, logistics, chế biến, thương mại điện tử và liên kết doanh nghiệp. Vì vậy, chính sách dân tộc không nên tiếp tục được tổ chức như tập hợp cơ học của nhiều tiểu dự án rời rạc, mà phải được thiết kế thành chuỗi can thiệp đồng bộ gắn với sinh kế, hạ tầng, thị trường và năng lực xã hội của cộng đồng.

Sáu là, tăng cường phân cấp đi đôi với nâng năng lực thực thi ở cơ sở. Trong bối cảnh chính quyền địa phương được sắp xếp lại theo hướng tinh gọn, việc giao quyền cho cấp dưới chỉ có ý nghĩa khi đi kèm với hướng dẫn kỹ thuật, công cụ số, cơ chế kiểm soát quyền lực và hỗ trợ nâng năng lực đội ngũ cán bộ. Chính sách dân tộc ở giai đoạn mới cần coi năng lực cán bộ cơ sở là một biến số phát triển, chứ không chỉ là vấn đề tổ chức bộ máy.

5. Dự báo các thách thức

Tích hợp 03 chương trình MTQG thành 01 chương trình thống nhất cho giai đoạn 2026-2035 là một bước chuyển thể chế lớn, có ý nghĩa tích cực trong việc giảm chồng chéo và tập trung nguồn lực. Tuy nhiên, đi cùng với cơ hội là các thách thức cần được dự báo sớm để thiết kế cơ chế thực hiện phù hợp ngay từ giai đoạn 2026-2030.

Thứ nhất, thách thức tích hợp về cơ chế nhưng không “hòa tan” tính đặc thù của từng chương trình, nhất là hợp phần dành cho vùng đồng bào DTTS&MN. Kết luận của Chính phủ nhấn mạnh việc tích hợp không làm giảm đi các chính sách, mà phải giúp tập trung hơn vào vùng lõi nghèo, vùng đồng bào DTTS&MN. Tuy nhiên, trong một chương trình chung, nguy cơ ưu tiên theo mặt bằng bình quân hoặc theo sức ép diện rộng là hiện hữu nếu không có hệ mục tiêu, tiêu chí và cơ chế phân bổ riêng cho địa bàn đặc thù.

Thứ hai, thách thức về điều phối thể chế và phân định trách nhiệm sẽ lớn hơn đáng kể. Kế hoạch triển khai theo Nghị quyết số 424/NQ-CP giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan chủ Chương trình; yêu cầu Bộ Dân tộc và Tôn giáo cùng nhiều bộ, ngành phối hợp ban hành hàng loạt quyết định, thông tư, bộ tiêu chí, quy trình công nhận và chính sách tín dụng trong năm 2026. Khối lượng văn bản hướng dẫn lớn trong thời gian ngắn làm gia tăng rủi ro chậm ban hành, thiếu đồng bộ hoặc khó xác định trách nhiệm cuối cùng nếu quá trình điều phối không thật sự chặt chẽ.

Thứ ba, thách thức từ việc hợp nhất các hệ tiêu chí, đối tượng, phương thức phân bổ nguồn lực vốn đã rất khác nhau giữa ba chương trình. Xây dựng nông thôn mới dựa trên bộ tiêu chí xã đạt chuẩn, nâng cao, kiểu mẫu và các cấu phần như OCOP; Giảm nghèo bền vững dựa trên chuẩn nghèo đa chiều và nhóm đối tượng dễ tổn thương; chính sách dân tộc gắn với phân định xã, thôn vùng đồng bào DTTS&MN theo Nghị định số 272/2025/NĐ CP. Chuyển ba logic chính sách này thành một hệ tiêu chí ưu tiên, giám sát và đánh giá thống nhất là bài toán kỹ thuật phức tạp, dễ phát sinh mâu thuẫn nếu thiếu thiết kế chuẩn ngay từ đầu.

Thứ tư, thách thức về làm nổi rõ hơn bài toán cạnh tranh nguồn lực giữa mục tiêu diện rộng và mục tiêu ưu tiên sâu. Về nguyên tắc, chương trình tích hợp hướng tới tập trung hơn cho vùng khó khăn, nhất là vùng đồng bào DTTS&MN. Tuy nhiên, nhu cầu duy trì thành quả nông thôn mới, giảm nghèo ở các địa bàn khác vẫn rất lớn. Nếu công thức phân bổ ngân sách không đủ rõ về trọng số ưu tiên, chương trình hợp nhất có thể rơi vào xu hướng dàn trải mới, tức là giảm được chồng chéo về hình thức nhưng chưa chắc nâng được cường độ đầu tư cho các vùng cần ưu tiên cao nhất.

Thứ năm, thách thức về tích hợp dữ liệu và xây dựng hệ thống giám sát dùng chung. Một chương trình thống nhất đòi hỏi phải liên thông dữ liệu về hộ nghèo, xã đạt chuẩn nông thôn mới, địa bàn DTTS&MN, đất đai, tín dụng chính sách, giáo dục, y tế và nước sạch. Nếu không xử lý tốt chuẩn dữ liệu, phương thức cập nhật và trách nhiệm chia sẻ thông tin giữa các cơ quan thì nguy cơ trùng lặp đối tượng, bỏ sót địa bàn ưu tiên và sai lệch đánh giá kết quả sẽ tiếp tục kéo dài trong một quy mô lớn hơn.

Thứ sáu, thách thức chuyển tiếp và năng lực thực thi ở địa phương cần được nhìn nhận như một rủi ro thực chất. Năm 2025, Chính phủ đã liên tục chỉ đạo tháo gỡ vướng mắc cho các chương trình MTQG trong bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Điều đó cho thấy ngay cả khi còn vận hành 03 chương trình riêng, nhiều địa phương đã gặp khó trong hướng dẫn, phân cấp và tổ chức thực hiện. Khi chuyển sang một chương trình tích hợp, nếu không có lộ trình chuyển tiếp, đào tạo cán bộ, quy trình mẫu và công cụ điều hành đủ rõ, áp lực hành chính và rủi ro đứt gãy triển khai ở cấp cơ sở sẽ tăng lên đáng kể.

6. Một số kiến nghị chính sách mang tính đột phá

Thứ nhất, trong Chương trình MTQG tích hợp giai đoạn 2026-2035, cần duy trì rõ vị trí của hợp phần đặc thù dành cho vùng đồng bào DTTS&MN, với mục tiêu, tiêu chí phân bổ, cơ chế thẩm định và cơ chế giám sát phù hợp. Tích hợp là để tăng đồng bộ, không phải để làm mờ đặc thù chính sách dân tộc.

Thứ hai, đổi mới công thức phân bổ nguồn lực theo hướng kết hợp giữa mức độ khó khăn, tầm quan trọng chiến lược của địa bàn và khả năng tạo tác động phát triển. Cách tiếp cận này giúp chuyển nguồn lực từ dàn trải sang tập trung có trọng điểm.

Thứ ba, cần xây dựng bộ chỉ số đánh giá ngắn gọn nhưng có giá trị quản trị cao cho giai đoạn 2026-2030. Bộ chỉ số phải cho phép theo dõi không chỉ đầu ra hạ tầng mà cả kết quả về sinh kế, nguồn nhân lực, tiếp cận dịch vụ cơ bản và sự hài lòng của người dân.

Thứ tư, cần hình thành nền tảng dữ liệu dân tộc và chính sách dân tộc dùng chung, liên thông với các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, việc làm và đất đai. Đây là điều kiện cần để chính sách được điều hành hiện đại, minh bạch, kịp thời.

Thứ năm, cần phát triển mạnh nhóm chính sách “trao năng lực”, như: tín dụng chính sách gắn với tư vấn sử dụng vốn; đào tạo nghề gắn cầu thị trường; hỗ trợ khởi sự kinh doanh; phát triển hợp tác xã, kinh tế cộng đồng, thương mại điện tử; tăng cường các thiết chế hỗ trợ phát triển dựa vào cộng đồng. Những chính sách này có khả năng biến hỗ trợ thành động lực tự phát triển.

Thứ sáu, tăng cường giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, cộng đồng dân cư và chính người dân thụ hưởng. Giám sát phải chuyển từ kiểm đếm thủ tục sang đánh giá chất lượng tác động cuối cùng của chính sách. Khi tiếng nói của cộng đồng được coi trọng hơn trong chu trình chính sách, hiệu quả và tính chính danh của chính sách dân tộc sẽ được nâng lên.

7. Kết luận

Đổi mới cách tiếp cận chính sách dân tộc trong giai đoạn 2026-2030 không chỉ là yêu cầu kỹ thuật của quản lý nhà nước, mà là một lựa chọn chiến lược của phát triển quốc gia. Kinh nghiệm giai đoạn 2021-2025 cho thấy đầu tư công đã tạo ra nhiều kết quả quan trọng, nhưng chưa đủ để tự thân tạo đột phá nếu mô hình can thiệp vẫn nặng về hỗ trợ đầu vào, dàn trải nguồn lực và quản lý thủ tục. Trong bối cảnh chương trình MTQG đã được tích hợp và yêu cầu quản trị nhà nước ngày càng cao, hướng đi phù hợp là chuyển mạnh từ “hỗ trợ” sang “tạo năng lực phát triển”. Chỉ khi giúp người dân, cộng đồng, chính quyền cơ sở nâng được năng lực nội sinh, chính sách dân tộc mới thực sự trở thành động lực thu hẹp khoảng cách phát triển, củng cố ổn định xã hội và đóng góp bền vững cho tăng trưởng quốc gia. Đồng thời, nhận diện sớm các thách thức của mô hình tích hợp là điều kiện để chương trình mới tránh được các rủi ro thể chế, không làm mờ tính đặc thù chính sách dân tộc và bảo đảm nguồn lực thực sự đi đến những địa bàn, nhóm dân cư cần ưu tiên cao nhất .

* Chánh Văn phòng, Văn phòng Quốc gia về Dân tộc và miền núi

Tài liệu tham khảo

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (2003). Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 về công tác dân tộc.

2. Bộ Chính trị (2019). Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24 NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới.

3. Chính phủ (2025). Nghị định số 272/2025/NĐ CP ngày 16/10/2025 về phân định vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026-2030.

4. Chính phủ (2025). Nghị quyết số 424/NQ-CP ngày 30/12/2025 ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 257/2025/QH15. 5. Quốc hội (2019). Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030.

6. Quốc hội (2020). Nghị quyết số 120/2020/ QH14 ngày 19/6/2020 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình MTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030. 7. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 257/2025/ QH15 ngày 11/12/2025 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026-2035.

8. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình MTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: 2021-2025.

9. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 1657/QĐ-TTg ngày 30/12/2022 ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.