Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Đóng góp của đạo Cao Đài trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ

PGS.TS. Nguyễn Thanh Xuân - 09:52, 22/02/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Đạo Cao Đài ra đời ở Nam Bộ vào đầu thế kỷ XX, sau đó phát triển và mở rộng trở thành một tôn giáo lớn ở Nam Bộ trước năm 1975. Ra đời và phát triển trong điều kiện xã hội trước sự xâm lược và thống trị của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, do vậy, đạo Cao Đài cùng nhân dân Nam Bộ và cả nước làm Cách mạng Tháng Tám thành công, kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống đế quốc Mỹ thắng lợi. Bài viết tập trung làm rõ những đóng góp của đạo Cao Đài đối với cách mạng giai đoạn 1945-1975.

Từ khóa: Đạo Cao Đài; Những đóng góp; Chống thực dân Pháp; Chống đề quốc Mỹ.

Nhận bài: 12/9/2025; Phản biện: 16/9/2025; Tác giả sửa: 20/9/2025; Duyệt đăng: 27/9/2025.

1. Khái quát về vùng đất Nam Bộ và đạo Cao Đài

Lịch sử khai khẩn vùng đất Nam Bộ của người Việt được hơn ba trăm năm, nhưng lịch sử vùng đất này đã có từ lâu và trải qua nhiều bước thăng trầm theo sự biến thiên của tự nhiên, xã hội và con người. Đến nay, vùng đất Nam Bộ trải qua ba giai đoạn lịch sử: Phù Nam từ đầu Công nguyên đến thế kỷ VII, Chân Lạp từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVII, Việt Nam từ thế kỷ XVII đến nay.

Công cuộc khai khẩn vùng đất Nam Bộ được mở đầu bằng những đợt di dân tự phát, không tuyên bố của người Việt từ cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII. Lúc đầu họ sống xen kẽ với người Stiêng, Mạ, Chơro, Khmer và các dân tộc thiểu số khác. Cuối thế kỷ XVII, các đoàn cư dân Trung Quốc cũng đến Nam Bộ sinh sống. Năm 1671, Mạc Cửu và đoàn tùy tùng đến lập nghiệp ở đất Hà Tiên. Năm 1679, một số võ tướng Trung Quốc như Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên, Hoàng Tiến, Trần An Bình,… đến định cư ở Biên Hòa, Mỹ Tho ngày nay. Sau đó các lớp cư dân người Việt, người Hoa, người Chăm tiếp tục đến khai khẩn vùng đất Nam Bộ. Thế kỷ XVIII, dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (ở ngôi 1738-1765), với sự nghiệp kinh dinh của Thượng thư Nguyễn Cư Trinh, địa giới vùng đất Nam Bộ cơ bản được xác định như hiện nay, từ vĩ tuyến 8035 đến vĩ tuyến 110. Sách Lược sử Vùng đất Nam Bộ Việt Nam viết rằng: “Chỉ sau hơn một thế kỷ, tính từ đầu thế kỷ XVII cho đến giữa thế kỷ XVIII, toàn bộ khu vực Nam Bộ đã thuộc quyền cai quản của Chúa Nguyễn và nhanh chóng trở thành vùng phát triển kinh tế - xã hội năng động”.

Thế kỷ XIX cùng với các đoàn di dân của người Việt, người Hoa, công cuộc khẩn hoang được triều đình nhà Nguyễn thúc đẩy thêm một bước quan trọng với những đóng góp lớn của Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu). Đầu thế kỷ XX, người Việt ở miền Bắc, miền Trung, người Hoa ở Phúc Kiến, Quảng Đông vào Nam Bộ làm ăn nên số dân tăng khá nhanh.

Tòa thánh Tây Ninh - công trình kiến trúc độc đáo của đạo Cao Đài
Tòa thánh Tây Ninh - công trình kiến trúc độc đáo của đạo Cao Đài

Về cư dân Nam Bộ, qua một số tài liệu có thể hình dung được việc tăng dân số theo thời gian như sau: năm 1819, trấn Gia Định có 97.100 suất đinh; năm 1847 có 165.598 xuất đinh. Số dân Nam Bộ năm 1867 là 1.204.278 (trong đó kể cả 585 người Pháp), năm 1905 là 2.876.417; năm 1909 là 2.975.838; năm 1920 là 3.600.000,… Và tính đến năm 2019, số dân của 19 tỉnh Nam Bộ là 35,38 triệu người.

Nam Bộ là vùng đất đa dạng về tôn giáo, trong đó có đạo Cao Đài. Đạo Cao Đài chính thức ra đời năm 1926 tại Tây Ninh do một số nhân vật có uy tín trong xã hội đương thời. Tuy nhiên, đạo Cao Đài ra đời và thành công được là do môi trường xã hội ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX. Ở Nam Bộ sau chiến tranh thế giới lần thứ I (1914-1918), với chính sách khai thác thuộc địa của Pháp, nhất là chính sách vơ vét bóc lột về nông nghiệp, chủ yếu là chính sách cướp đất lập đồn điền và tăng thuế, đã đẩy người dân Nam Bộ đến cuộc sống hết sức nghèo đói cơ cực và không lối thoát. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, người nông dân Việt Nam nói chung, người nông dân Nam Bộ nói riêng chịu một cổ hai, ba tròng áp bức. Trong quá trình đó, người dân Nam Bộ đã không ngớt vùng lên đấu tranh sống mái với quân thù, càng về sau càng sôi nổi quyết liệt. Nhưng do những hạn chế về mặt giai cấp, nông dân không thể tự giải phóng mình được. Lúc đó lại thiếu một chính đảng của giai cấp tiên tiến là giai cấp công nhân lãnh đạo. Do đó, các cuộc đấu tranh của giai cấp nông dân lần lượt bị thực dân Pháp dìm trong bể máu. Bế tắc trong cuộc sống người dân Nam Bộ tìm đến với tôn giáo để xoa dịu nỗi đau, để được an ủi và chia sẻ.

Ngoài những nguyên nhân chủ yếu do đói khổ và sự bế tắc trong cuộc sống đấu tranh của nhân dân Nam Bộ, đạo Cao Đài ra đời còn do sự sa sút suy thoái của các tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống, nhất là sự suy vi của Phật giáo và sự suy rã của các thiết chế xã hội truyền thống và đạo đức Nho giáo khi Nam Bộ bước vào xã hội thuộc địa và sự thâm nhập của văn minh phương Tây. Do đó, đạo Cao Đài ra đời được coi như là sự khỏa lấp khoảng trống tâm linh do sự khủng hoảng của tôn giáo, đạo lý đương thời tạo ra.

Tất cả những yếu tố nói trên ở Nam Bộ đã hội họp đầy đủ tạo môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội và tư tưởng rất thuận lợi cho đạo Cao Đài ra đời mà những giai đoạn trước đó và sau đó không có hoặc không đủ. Do đó, có thể kết luận đạo Cao Đài ra đời ở Nam Bộ là một tất yếu xã hội ở Nam Bộ sau chiến tranh thế giới lần thứ I (1914-1918). Hay nói cách khác, đạo Cao Đài chỉ có thể ra đời ở Nam Bộ trong khoảng thời gian sau chiến tranh thế giới lần thứ I đến trước Cách mạng Tháng Tám (1945), khó có thể ra đời ở nơi khác và trong thời gian khác.

Như vậy, sự ra đời của đạo Cao Đài xét ở khía cạnh chính trị - xã hội còn là biểu hiện sự phản ứng của nhân dân Nam Bộ trước chính sách vơ vét bóc lột về kinh tế, áp bức về chính trị, nô dịch về văn hóa của thực dân Pháp. Xét từ khía cạnh chính trị, xã hội, đạo Cao Đài ra đời được coi như phong trào dân tộc, phong trào yêu nước dưới hình thức tôn giáo. Và trong một chừng mực nhất định có thể so sánh sự ra đời của đạo Cao Đài tương tự như Ki-tô giáo sơ kỳ, phong trào của những người Do Thái chống lại sự xâm lược và cai trị xã hội của đế quốc La Mã.

Vì nhiều lý do, đạo Cao Đài chia thành chiều hệ phái. Chỉ sau khi ra đời một thời gian ngắn, từ đầu những năm 1930 đến năm 1945 đạo Cao Đài có hơn chục hệ phái, đến năm 1975 có gần hai chục tổ chức, hệ phái. Điều đáng quan tâm là sau khi đạo Cao Đài chia rẽ lại xuất hiện ngay các hoạt động thống nhất, kéo dài liên tục cho đến năm 1975 với các tổ chức điển hình như Cao Đài Liên Đoàn sau đổi thành Cao Đài Liên Hòa Tổng Hội (1936), Cao Đài Cứu quốc Mười hai phái Thống nhất và Hội thánh Duy Nhất (1947), Cao Đài Quy Nhất sau đổi thành Cao Đài Thống Nhất (1952),...

Đến năm 1975, đạo Cao Đài có 2,5 triệu tín đồ, khoảng 23.000 chức sắc, chức việc, hơn 1.100 cơ sở thờ tự của gần hai chục hệ phái và tổ chức độc lập, trong đó một số hệ phái có tín đồ, chức sắc đông là: Cao Đài Tây Ninh, Cao Đài Ban Chỉnh đạo, Cao Đài Tiên Thiên, Cao Đài Minh Chơn đạo,... Cụ thể:

Cao Đài Tây Ninh hơn 1,0 triệu tín đồ, 355 thánh thất (họ đạo), 99 điện thờ Phật Mẫu, 2.500 chức sắc, hơn 7.000 chức việc có mặt ở 33 tỉnh thành, như: Tây Ninh, Long An, Sa Đéc và Cao Lãnh, Bến Tre, Sài Gòn và Gia Định, Long Xuyên và Châu Đốc, Mỹ Tho và Gò Công, Cần Thơ,…

Cao Đài Ban Chỉnh đạo có 930.000 tín đồ, 271 chức sắc, 245 họ đạo có mặt ở 26 tỉnh, thành phố phía Nam. Một số tỉnh tập trung đông tín đồ như Bến Tre, Long An, Trà Vinh, Sài Gòn, Mỹ Tho và Gò Công,…

Cao Đài Tiên Thiên có khoảng 350.000 tín đồ với 107 họ đạo ở 15 tỉnh, thành phố. Một số tỉnh tập trung đông như Bến Tre, Mỹ Tho, Gò Công, Vĩnh Long, Sóc Trăng,...

Cao Đài Minh Chơn đạo có khoảng 100 ngàn tín đồ, hơn 400 chức sắc, chức việc, 49 họ đạo ở bốn tỉnh miền Tây Nam Bộ, như Cà Mau, Bạc Liêu, Rạch Giá và Hà Tiên,...

Ngoài các hệ phái Cao Đài nói trên, ở Nam Bộ có các phái như: Cao Đài Minh Chơn Lý gần 50 ngàn người, hơn 500 chức sắc chức việc của 25 thánh; Cao Đài Bạch y có gần 10.000 tín đồ, tất cả 15 thánh thất; Cao Đài Chiếu Minh Long Châu. Cao Đài Việt Nam Bến Tranh có 3.000 tín đồ ở 02 thánh thất; Cao Đài Việt Nam Bình Đức có khoảng 7.000 tín đồ 09 thánh thất,... Ở miền Trung có hai hệ phái Cao Đài là Truyền giáo Cao Đài và Cao Đài Tam Quan với khoảng có gần 100 ngàn tín đồ, 60 họ đạo ở 12 tỉnh, thành phố, chủ yếu ở khu vực miền Trung, như: Đà Nẵng, Quảng Nam,…

Như vậy, đạo Cao Đài là một trong những tôn giáo có số lượng tín đồ, chức sắc, chức việc đông đảo, tạo ảnh hưởng lớn về mọi mặt ở Nam Bộ trong khoảng thời gian trước năm 1975.

2. Đóng góp của các phái Cao Đài đối với Cách mạng giai đoạn 1945-1975

Đóng góp của đạo Cao Đài trong Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). Năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, đồng bào Nam Bộ và cả nước nổi dậy khởi nghĩa “đánh Pháp đuổi Nhật giành chính quyền về tay nhân dân”. Đó là Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Thời kỳ này phong trào khởi nghĩa ở Nam Bộ rất sôi nổi vì Nam Bộ là thuộc địa chịu sự áp bức bóc lột của Pháp, vì Đảng rất quan tâm đến phong trào khởi nghĩa ở Nam Bộ với sự chỉ đạo trực tiếp Xứ uỷ Nam Kỳ và Mặt trận Việt Minh. Thời kỳ này các cuộc khởi nghĩa ở các địa phương đều có sự tham gia của tín đồ, chức sắc của đạo Cao Đài. Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo và hướng dẫn của ông Cao Triều Phát, Phó Chủ tịch Mặt trận Việt Minh tỉnh Bạc Liêu, tín đồ, chức sắc Cao Đài Minh Chơn đạo đóng vai trò quan trọng khởi nghĩa giành chính quyền. Ở Tây Ninh, ngày 25/8/1945, dưới sự hướng dẫn của Phối sư Đặng Trung Chữ, đông đảo tín đồ, chức sắc đạo Cao Đài cùng đồng bào trong tỉnh mít tinh ủng hộ Mặt trận Việt Minh chống Pháp, chống Nhật dành chính quyền về tay nhân dân.

ành được độc lập chỉ một thời gian ngắn, người dân Nam Bộ lại đối diện với cuộc tái chiếm của thực dân Pháp. Do vậy, trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) dưới sự lãnh đạo của Đảng qua Xứ uỷ Nam Kỳ và Mặt trận Việt Minh, đạo Cao Đài đã tích cực tham gia và có những đóng góp mới đối với cách mạng. Đầu tiên là tiếng súng của Cao Đài Minh Chơn đạo dưới sự chỉ huy của ông Cao Triều Phát chiến đấu chống Pháp tái chiếm Nam Bộ vào tháng 4/1946 tại “Mặt trận Giồng Bốm” ở Bạc Liêu đã tiêu diệt hơn 100 lính Pháp.

Đóng góp của đạo Cao Đài với cách mạng trong kháng chiến chống thực dân Pháp tiêu biểu là ra đời và hoạt động của Hội Cao Đài Cứu quốc Mười hai phái thống nhất. Trong quá trình vận động tiến tới Cách mạng Tháng Tám nhiều chức sắc, tín đồ đạo Cao Đài đã tích cực tham gia các tổ chức Cứu quốc theo đoàn thể. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, nhất là khi Pháp tái chiếm Nam Bộ, dưới sự lãnh đạo của Xứ uỷ và Uỷ ban Hành chính Kháng chiến và Kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ, đặc biệt với vai trò của ông Cao Triều Phát, tháng 6/1947 đã chính thức thành lập Hội Cao Đài Cứu quốc Mười một phái Hiệp nhất dựa trên những thành viên của Hội nghị Cao Đài Cứu quốc được tổ chức năm 1945. Sau đó đến tháng 11/1947 đổi là Hội Cao Đài Cứu quốc Mười hai phái Thống nhất đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, gồm: Cao Đài Minh Chơn đạo, Cao Đài Ban Chỉnh đạo, Cao Đài Tiên Thiên, Cao Đài Minh Chơn Lý, Cao Đài Bạch Y, Cao Đài Chiếu Minh, Cao Đài Cao Thượng Bửu Toà, Cao Đài Hội Giáo, Cao Đài Tuyết Cốc, Cao Đài Chơn Lý Tầm Nguyên, Cao Đài Liên Hoà Tổng hội và Cao Đài Toà thánh Tây Ninh. Hội Cao Đài Cứu quốc Mười hai phái Thống nhất ban hành Tuyên ngôn và Chương trình hành động rất cụ thể để huy động sức người, sức của phục vụ cho Kháng chiến chống Pháp.

Hội Cao Đài Cứu quốc Mười hai phái Thống nhất xây dựng cơ cấu tổ chức từ cấp miền, cấp tỉnh, cấp huyện và cơ sở. Từ khi thành lập 1947 cho đến năm 1954, Hội Cao Đài Cứu quốc Mười hai phái Thống nhất tổ chức bốn kỳ Đại hội để chấn chỉnh tổ chức và triển khai các hoạt động cụ thể theo Tuyên ngôn:“Tham gia triệt để cuộc cách mạng giải phóng dân tộc”. Năm 1954 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Hội Cao Đài Cứu quốc Mười hai phái Thống nhất đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Xét công lao đóng góp của Hội Cao Đài Cứu quốc Mười hai phái Thống nhất trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ngày 18/12/1954, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng II với thành tích:“Đã nêu cao tinh thần đoàn kết kháng chiến cứu nước”.

Và do hoàn cảnh đặc thù lúc đó nên có một điểm quan trọng chỉ thống nhất với nhau bằng miệng, không ghi văn bản, đó là: Đạo - Đời đoàn kết đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève, thống nhất đất nước.

Đóng góp của đạo Cao Đài trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954-1975). Ngày 07/02/1955 (tức ngày Rằm tháng Giêng năm Ất Mùi) tại Tòa thánh Ngọc Sắc (Bạc Liêu) của Cao Đài Minh Chơn đạo, các chức sắc năm chi phái Cao Đài thay mặt cho hơn nửa triệu tín đồ, chức sắc đã nhóm họp quyết định thành lập Liên giao Cao Đài, sau này gọi là Liên giao I. Chức sắc đại diện năm chi phái Cao Đài là: Chưởng pháp Huỳnh Ngọc Tồn - Cao Đài Minh Chơn đạo, Chưởng pháp Võ Văn Tần - Cao Đài Tiên Thiên, Chưởng quản Nguyễn Văn Giai - Cao Đài Chiếu Minh, Chưởng quản Trương Sỹ Tấn - Cao Đài Bạch Y, Chánh Phối sư Nguyễn Văn Nhất - Cao Đài Cao Thượng Bửu Tòa. Liên giao I đã thông qua Quy ước chung gồm bảy điểm: 1- Đạo gắn bó với dân tộc, thực hiện tôn chỉ mục đích cứu khổ nhân sinh của Đức Chí Tôn; 2- Cầu nguyện hòa bình, bảo vệ cho quốc thái dân an; 3- Đoàn kết giúp đỡ nhau trong việc tu hành, làm lành, làm phải, hết lòng phụng sự nhân sinh; 4- Tương trợ nhau về vật chất, tinh thần trong lúc đồng đạo gặp khó khăn, hoạn nạn; 5-Ủng hộ những người tu hành chân chính, bảo vệ tu sĩ; 6-Bảo vệ tự do tín ngưỡng; 7-Không xen vào công việc nội bộ của nhau.

Hoạt động của Liên giáo I là đấu tranh hòa bình đòi chính quyền Ngô Đình Diệm thi hành Hiệp định Genève tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Sau đó là những cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, chống “tố cộng, diệt cộng” và tự do tôn giáo,… Sau phong trào Đồng Khởi 1960-1961, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời, các chức sắc Cao Đài đã tham gia Mặt trận ở các tỉnh thành, như: Mặt trận tỉnh Cần Thơ có Giáo hữu Đặng Thanh Sử (Cao Đài Tiên Thiên); Mặt trận tỉnh Sóc Trăng có Bảo pháp Ngô Thiên Ấn (Cao Đài Minh Chơn đạo) Phối sư Nguyễn Văn Nghiêm (Cao Đài Tiên Thiên); Mặt trận tỉnh Cà Mau có Phối sư Lê Ngọc Cự, Giáo sư Hồ Thị Thố (Cao Đài Minh Chơn đạo); Mặt trận tỉnh Sa Đéc có Giáo sư Nguyễn Minh Cảnh (Cao Đài Tiên Thiên); Mặt trận tỉnh Long An có Phối sư Nguyễn Văn Nhi (Cao Đài Tiên Thiên); Mặt trận tỉnh Trà Vinh có Giáo hữu Trần Văn Hiểu (Cao Đài Tiên Thiên); Mặt trận tỉnh Vĩnh Long có Phối sư Nguyễn Văn Lố (Cao Đài Tiên Thiên); Mặt trận tỉnh Bến Tre có Phối sư Đoàn Văn Trang (Cao Đài Tiên Thiên); Mặt trận tỉnh Rạch Giá có Phối sư Nguyễn Kim Khuê (Cao Đài Minh Chơn đạo),...

Suốt ba năm tồn tại từ khi thành lập đến ngày miền Nam giải phóng (1972-1975), các chi phái Cao Đài trong khối Liên giao II đã hoạt động rất tích cực, có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của toàn dân. Ông Ngô Tâm Đạo, người đứng đầu Hội thánh Cao Đài Minh Chơn đạo và là nhân vật chủ chốt của Liên giao II tổng kết một số công việc chủ yếu của Liên giao II đã thực hiện được như sau: Một là, đã phá vỡ âm mưu thống nhất đạo Cao Đài để làm hậu thuẫn cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn; Hai là, chống lại việc bắt thanh niên, tu sỹ của đạo Cao Đài vào lính của quân đội Sài Gòn (các phái Cao Đài trong Liên giao II đã giữ được 18 ngàn thanh niên đạo Cao Đài không bị bắt lính - riêng Cao Đài Tiên Thiên đã giữ được ba ngàn thanh niên). Ba là, phát động phong trào đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn bằng hình thức cầu nguyện hòa bình. Rồi từ phong trào cầu nguyện hòa bình chuyển thành phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, đòi Mỹ và chính quyền Sài Gòn thi hành Hiệp định Paris.

Riêng với Cao Đài Tây Ninh, giai đoạn những năm 1954-1960, trong bối cảnh phức tạp giữa quan hệ Tòa thánh Tây Ninh với chính quyền Sài Gòn, ở Tây Ninh vẫn diễn ra các cuộc đấu tranh của tín đồ Cao Đài. Cụ thể là tín đồ Cao Đài huyện Phú Khương (chính quyền Mặt trận giải phóng gọi là huyện Tòa thánh) đấu tranh chống chiến dịch “tố cộng” của Mỹ - Diệm mang tên Trương Tấn Bửu triển khai ở Tây Ninh năm 1956, cuộc vận động “trưng cầu dân ý” bầu cử chính quyền năm 1956, cuộc biểu tình tẩy chay việc Ngô Đình Diệm lên thăm Tòa thánh Tây Ninh năm 1960,... Những kết quả của phong trào Cao Đài nói trên cùng với những yếu tố khác đã tạo thế và lực để Tây Ninh có trận Tua Hai (1960) nổi tiếng, góp phần mở đầu phong trào Đồng Khởi ở miền Nam. Sau đó là như cuộc đấu tranh chống vận động bầu cử quốc hội năm 1966, phong trào đấu tranh chống lập ấp chiến lược những năm 1966-1971, các phong trào đấu tranh hợp pháp chống lại sự xâm lược và thống trị của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đòi quyền dân sinh, dân chủ, chống bắt lính và quân sự hóa học đường, chống việc bầu cử tổng thống năm 1971, phong trào đấu tranh của sinh viên Đại học Cao Đài đòi thi hành Hiệp định Paris năm 1974,...

Với Cao Đài Tây Ninh - một hoạt động quan trọng mang tính tích cực của chức sắc, tín đồ là tham gia phong trào Hoà bình Chung sống theo tư tưởng của Hộ pháp Phạm Công Tắc đưa ra năm 1955 tại Campuchia. Một hướng hoạt động của chức sắc, tín đồ của Toà thánh Tây Ninh chống chính quyền Ngô Đình Diệm (1956-1960) do Sỹ tải Nguyên Minh Ngời, Thừa sử Lê Quan Tấn, Sỹ tài Phạm Duy Nhung lãnh đạo. Cuộc đấu tranh đã có gần 2.000 người bị bắt, tù đày trong đó có người đã hy sinh. Một hướng hoạt động khác là tham gia cách mạng, như Giáo hữu Thượng Thâu Thanh, Đạo nhơn Lê Văn Buội, Thiếu tá Huỳnh Thanh Mừng,… với tên gọi Ban Củng cố Hoà bình Chung sống - sau này là thành viên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

3. Kết luận

Đạo Cao Đài là tôn giáo ra đời ở Nam Bộ trong bối cảnh lịch sử với các yếu tố chính trị, xã hội, văn hóa rất riêng - thuộc địa của Pháp liên quan đến sự vơ vét bóc lột của Pháp làm người dân đói khổ, là sự đàn áp đẫm máu của Pháp đối với các cuộc khởi nghĩa chống Pháp. Đạo Cao Đài là tôn giáo phản ánh tâm lý, tình cảm của người dân Nam Bộ - tinh thần dân tộc. Tổng Bí thư Lê Duẩn đánh giá: Đạo Cao Đài là phong trào dân tộc, do vậy khi được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sẽ phát huy những mặt tích cực của đạo Cao Đài.

Đạo Cao Đài là một tôn giáo lớn ở Nam Bộ. Những đóng góp của đạo Cao Đài đối với cách mạng những năm 1945-1975 ngoài những yếu tố riêng của đạo Cao Đài, còn là sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng. Trong ba miền, Nam Bộ là vùng đất mới mở sau này với những vấn đề lịch sử, cư dân, văn hóa riêng. Những năm 1945-1954 và cả sau này trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận, như xứ uỷ, Uỷ ban Hành chính Kháng chiến, Kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ được xây dựng, củng cố chặt chẽ, và rất quan tâm đến đạo Cao Đài.

Những đóng góp của đồng bào theo đạo Cao Đài đã góp phần cùng với các tầng lớp nhân dân làm nên thắng lợi to lớn của dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám (1945), kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954-1975). Những đóng góp của đạo Cao Đài đối với cách mạng những năm 1945-1975 là tiền đề vững chắc cho đạo Cao Đài tiếp nối đường hướng “Nước vinh - Đạo sáng” trong thời kỳ đổi mới của đất nước./.

Tài liệu tham khảo

1. Ban Tôn giáo Chính phủ (1982), Số liệu tôn giáo ở Việt Nam năm 1982. Tài liệu lưu trữ. Hà Nội.

2. Ban Tôn giáo Chính phủ (1982), Thoả ước Liên giáo 18 phái Cao Đài năm 1972. Tài liệu lưu trữ. Hà Nội.

3. Ban Tôn giáo Chính phủ (1982), Tổng quan Cao Đài với cách mạng, Hà Nội.

4. Ban Trị sự Hội thánh Cao Đài Tiên Thiên (2001), Lược sử Cao Đài Tiên Thiên Đại đạo Tam kỳ Phổ độ, Bến Tre.

5. Tô Minh Đức (2001), Đôi nét về đạo Cao Đài Minh Chơn đạo qua hai cuộc kháng chiến của dân tộc, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4/2001.

6. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (2006), Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội.

7. Nguyên Hùng (1997), Đạo đời hai vai - Hồi ký Ngô Tâm Đạo, Nxb. Văn học.

8. Tỉnh uỷ Bến Tre (1985), Báo cáo thành tích tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng đất nước của đạo Cao Đài (Ban Chỉnh Đạo), Bến Tre.

9. Tổng cục Thống kê (2019), Niên giảm thống kê dân số và nhà ở, Nxb. Thống kê, Hà Nội.

10 Nguyễn Thanh Xuân (2013), Đạo Cao Đài - Hai khía cạnh lịch sử và tôn giáo, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.