Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Đột phá phát triển giáo dục đào tạo vùng dân tộc thiểu số và miền núi - Nhìn từ Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị

Hoàng Thị Phương Liên - 16:59, 11/02/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết phân tích thực trạng giáo dục đào tạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi qua kết quả điều tra thu thập thông tin kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số mới được rà sóat, cập nhật cùng khả năng tác động của Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị đối với phát triển giáo dục và đào tạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Từ khóa: Nghị quyết số 71-NQ/TW; Giáo dục dân tộc; Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.


Thực hiện các mục tiêu trong Nghị quyết số 71-NQTW là cơ hội phát triển mạnh mẽ giáo dục dân tộc
Thực hiện các mục tiêu trong Nghị quyết số 71-NQTW là cơ hội phát triển mạnh mẽ giáo dục dân tộc

1. Kết quả nghiên cứu

1.1. Khái quát thực trạng giáo dục đào tạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Phân tích kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội 53 dân tộc thiểu số (DTTS) do Ủy ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo) phối hợp với Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), nay là Cục Thống kê (Bộ Tài chính) thực hiện năm 2024 (công bố kết quả rà sóat ngày 28/11/2025), trên Cổng thông tin điện tử Bộ Dân tộc và Tôn giáo, cho thấy một số vấn đề sau:

Thứ nhất, mức độ tiếp cận giáo dục phổ thông của người DTTS được cải thiện rõ rệt, nhưng có sự chênh lệch khá cao về tiếp cận giáo dục trung học cơ sở và trung học phổ thông giữa các vùng kinh tế - xã hội

Theo kết quả điều tra, tính đến ngày 01/7/2024, tỷ lệ đi học cấp tiểu học của người DTTS là 103,2% (tăng 2,7%) so với năm 2019; cấp trung học cơ sở (THCS) là 91,5% (tăng 5,7%); cấp trung học phổ thông (THPT) là 54% (tăng 3,8%). So với lần điều tra trước (năm 2019), mức độ tiếp cận giáo dục phổ thông của người DTTS được cải thiện rõ rệt, đặc biệt là ở cấp THCS.

Tỷ lệ trẻ em DTTS đi học đúng tuổi cấp tiểu học đạt 96,3%, giảm không đáng kể so với năm 2019 (96,9%); cấp THCS đạt 87% (tăng 5,35%); cấp THPT đạt 51,7% (tăng 4,55%). Không có nhiều sự khác biệt giữa các vùng kinh tế - xã hội về mức độ phổ cập giáo dục tiểu học nhưng có sự chênh lệch khá cao ở cấp THCS và THPT. Tỷ lệ đi học cấp THCS và THPT cao nhất là vùng đồng bằng sông Hồng, tương ứng là 92,4% và 66,4%; thấp nhất là Tây Nguyên, tương ứng là 77,1% và 31,8%. Như vậy, chênh lệch cao nhất giữa các vùng kinh tế - xã hội là 15,3% ở cấp THCS và 34,6% ở cấp THPT.

Thứ hai, sự khác biệt về giới và khu vực nông thôn, thành thị về tỷ lệ đọc thông, viết thạo chữ phổ thông

Biết đọc, biết viết chữ phổ thông là khả năng đọc và viết một đoạn văn đơn giản trong sinh hoạt hằng ngày bằng tiếng phổ thông. Tỷ lệ này là một trong những chỉ tiêu chung phản ánh kết quả giáo dục đối với đồng bào DTTS.

Theo kết quả điều tra, tỷ lệ biết đọc, biết viết chữ phổ thông của người DTTS từ 15 tuổi trở lên là 84,9%, tăng 4% so với năm 2019. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu trong Đề án Tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030: “Đến năm 2025, người từ đủ 15 tuổi trở lên đọc thông, viết thạo tiếng phổ thông trên 90%”, cần tập trung các chính sách để nâng cao tỷ lệ đi học của trẻ em DTTS ở các cấp và chương trình bổ túc văn hóa đối với người DTTS ngoài độ tuổi đi học phổ thông. Bên cạnh đó, còn có sự khác biệt về giới và ở khu vực thành thị, nông thôn về khả năng đọc thông, viết thạo chữ phổ thông của người DTTS. Nam DTTS có tỷ lệ đọc thông viết thạo chữ phổ thông cao hơn nữ DTTS 8% (88,9% và 80,9%) dù khoảng cách này đã thu hẹp 3,6% so với năm 2019. Tỷ lệ này của người DTTS sống ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn là 7,3% (91,1% và 83,8%) dù khoảng cách này cũng đã được thu hẹp 1,6% so với năm 2019.

Thứ ba, trình độ học vấn của người DTTS còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước

Học vấn là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng dân số và giáo dục. Hiện nay, tỷ lệ người DTTS từ 15 tuổi trở lên có trình độ THPT phân theo giới tính là 22,1%, thấp hơn nhiều tỷ lệ chung của cả nước (36,5%) [1]. Giữa khu vực thành thị và nông thôn cũng có sự chênh lệch về trình độ học vấn cao nhất của người DTTS. Người DTTS từ 15 tuổi trở lên chưa tốt nghiệp tiểu học ở nông thôn cao gấp 1,5 lần so với thành thị; người DTTS từ 15 tuổi trở lên có trình độ từ THPT ở khu vực thành thị cao hơn 1,9 lần so với khu vực nông thôn.

Thứ tư, về trình độ chuyên môn kỹ thuật phân theo trình độ học vấn và giới tính

Chỉ có 12,8% người DTTS từ 15 tuổi trở lên có trình độ chuyên môn kỹ thuật, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ dân số có trình độ chuyên môn kỹ thuật của cả nước (19,2%) [2]. Trong số những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ người DTTS có trình độ từ cao đẳng trở lên chiếm 46%. Đáng chú ý là tỷ lệ người DTTS từ 15 tuổi trở lên không có trình độ chuyên môn kỹ thuật ở nữ giới cao hơn nam giới (4,6%); nhưng nam giới có trình độ sơ cấp lại cao hơn nữ giới tới 3,6 lần. Ở các bậc cao như cao đẳng, đại học trở lên, nữ DTTS có tỷ lệ phần trăm cao hơn nam (lần lượt là 0,4% bậc cao đẳng và 0,7% bậc đại học trở lên).

1.2. Nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị nhìn từ góc độ giáo dục dân tộc

Trong quá trình phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Tuy nhiên, giáo dục và đào tạo của đất nước nói chung, giáo dục dân tộc nói riêng vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế, chưa thực sự trở thành then chốt cho sự phát triển bứt phá của đất nước, của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN).

Hiện nay, Việt Nam đang đứng trước vận hội lịch sử để phát triển bứt phá, nên yêu cầu xây dựng con người, xây dựng nguồn nhân lực có lòng yêu nước và tự hào dân tộc, đủ bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, trình độ, sức khỏe đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới được đặt ra rất quan trọng và cấp bách, đòi hỏi phải có sự đột phá trong phát triển giáo dục và đào tạo. Là một bộ phận của nền giáo dục quốc dân, giáo dục và đào tạo vùng đồng bào DTTS&MN không thể tách rời xu hướng, yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục đào tạo quốc gia, nhất là trong bối cảnh đang tồn tại khoảng cách như hiện trạng được mô tả khái quát trong bức tranh trên.

Ngày 22/8/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết). Nghị quyết nhấn mạnh quan điểm: “Nhận thức sâu sắc, đầy đủ và thực hiện nhất quán quan điểm giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai của dân tộc”, “Phát triển giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân”. Những quan điểm này không mới nhưng cách tiếp cận đã thay đổi, với các nhiệm vụ, giải pháp được đặt ra là: “chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại, hành động quyết liệt. Đặt phát triển giáo dục và đào tạo trong tư duy quản trị quốc gia, quản trị xã hội”. “Bảo đảm cơ hội học tập công bằng, bình đẳng cho mọi người”… Tại vùng đồng bào DTTS&MN, các quan điểm này có ý nghĩa đặc biệt. Bởi lẽ, muốn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, muốn xóa nghèo bền vững, muốn khơi dậy nội lực cộng đồng… không có con đường nào bền vững hơn là tập trung nâng cao dân trí và tạo ra một hệ thống giáo dục bình đẳng, hiện đại, tiếp cận tới mọi tộc người.

Trong Nghị quyết nhấn mạnh trách nhiệm của Nhà nước là “giữ vai trò định hướng chiến lược, kiến tạo phát triển, bảo đảm nguồn lực và công bằng trong giáo dục”. Trước hết, về định hướng chiến lược, Nghị quyết đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2030: “Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3-5 tuổi và giáo dục bắt buộc hết THCS; ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành cấp THPT và tương đương”; “tỷ lệ người trong độ tuổi theo học các trình độ sau THPT đạt 50%. Tỷ lệ người lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đạt 24%”.

So sánh mục tiêu phấn đấu trong Nghị quyết với tình hình vùng đồng bào DTTS&MN, có thể thấy nhiệm vụ phát triển giáo dục dân tộc giai đoạn 2026-2030 là rất nặng nề. Nhưng thực hiện được các mục tiêu này chính là cơ hội để đầu tư phát triển mạnh mẽ hệ thống giáo dục dân tộc hiện nay. Tiếp đó, ở góc độ đảm bảo nguồn lực, Nghị quyết yêu cầu: “Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo đạt tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước, trong đó phân bổ chi đầu tư đạt ít nhất 5% tổng chi ngân sách nhà nước và chi cho giáo dục đại học đạt ít nhất 3% tổng chi ngân sách nhà nước. Thống nhất chủ trương xây dựng và triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035”.

Ở góc độ đảm bảo công bằng trong tiếp cận giáo dục, đây là nền tảng của sự ổn định xã hội, là điều kiện để quốc gia, để vùng đồng bào DTTS&MN phát triển bền vững. Công bằng trong giáo dục được thực hiện qua các nhiệm vụ, giải pháp: mở rộng mạng lưới trường, lớp cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh thuộc mọi đối tượng, vùng miền; Hoàn thành xây dựng mạng lưới trường phổ thông dân tộc nội trú tại vùng đồng bào DTTS, vùng khó khăn và biên giới trước năm 2030; mở rộng hệ thống đào tạo dự bị đại học cho học sinh người DTTS, miền núi; bảo đảm mỗi tỉnh, thành phố có ít nhất một cơ sở giáo dục chuyên biệt tới cấp THPT… Thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp này là cơ hội để giải quyết tận gốc tình trạng “thiếu trường - thiếu lớp - thiếu chỗ ở” đang tồn tại tại nhiều địa phương vùng đồng bào DTTS&MN.

Bên cạnh những nhiệm vụ, giải pháp mang tính định hướng chung cho nền giáo dục và đào tạo quốc gia, nghiên cứu Nghị quyết, có thể khái quát thêm hai nhóm chủ trương lớn liên quan đến giáo dục dân tộc trong những năm tới như sau:

Một là nhóm định hướng chất lượng: Nghị quyết yêu cầu: Chăm lo giáo dục trẻ em ngay từ giai đoạn đầu đời, chuẩn bị đủ điều kiện thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3-5 tuổi; đổi mới phương pháp, chương trình, tăng cường ứng dụng công nghệ, phát triển giáo dục số, giáo dục mở; xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo nghề chất lượng cao cho đồng bào DTTS ở các ngành nghề phù hợp… Đây là cơ hội để vùng đồng bào DTTS&MN rút ngắn khoảng cách chất lượng giáo dục đào tạo so với các vùng khác. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, nếu chỉ duy trì mô hình lớp học truyền thống trong điều kiện thiếu thốn trang thiết bị học tập đạt chuẩn, các phòng học thực hành, trải nghiệm STEM/STEAM (là các hoạt động thực hành, thí nghiệm và dự án giúp học sinh áp dụng kiến thức từ các môn Khoa học (Science), Công nghệ (Technology), Kỹ thuật (Engineering), Toán học (Mathematics) và Nghệ thuật (Art - đối với STEAM) để giải quyết các vấn đề thực tế nhằm mục tiêu phát triển kỹ năng tư duy phản biện, sáng tạo, giải quyết vấn đề và sự kết nối giữa lý thuyết và thực hành) thì rất khó để nâng cao chất lượng giáo dục vùng đồng bào DTTS&MN. Tuy nhiên, nếu phát huy công nghệ, từ học trực tuyến, học kết hợp, đến các phần mềm hỗ trợ dạy học song ngữ thì học sinh vùng đồng bào DTTS&MN hoàn toàn có thể tiếp cận với những nội dung học tập mà trước đây rất khó có cơ hội. Mặt khác, đối với vùng đồng bào DTTS&MN, tăng cường chuyển đổi số còn giúp học sinh có cơ hội bình đẳng trong tiếp cận giáo dục. Nơi nào thiếu giáo viên có thể giảng dạy trực tuyến; nơi giao thông khó khăn, học sinh có thể học tài liệu số… Như vậy, cũng góp phần thu hẹp chênh lệch giáo dục giữa vùng đồng bào DTTS&MN với các vùng thuận lợi.

Hai là nhóm định hướng thể chế: Nghị quyết yêu cầu: Có chính sách đặc thù, vượt trội cho đội ngũ nhà giáo, đặc biệt là giáo viên giỏi và giáo viên am hiểu văn hóa các dân tộc; nâng phụ cấp ưu đãi nghề đối với cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông lên tối thiểu 100% cho giáo viên ở khu vực đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào DTTS; xây dựng nhà công vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên ở xa tới công tác… Nhóm giải pháp này rất quan trọng, bởi nếu không giải được bài toán người thầy, các mục tiêu đổi mới giáo dục sẽ khó thành công. Ở vùng đồng bào DTTS&MN, giáo viên không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là người kết nối văn hóa, giúp học sinh vừa giữ được bản sắc văn hóa dân tộc, vừa tiếp cận tri thức mới. Hơn nữa, khi Nghị quyết yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới phương pháp, ứng dụng công nghệ… thì nhu cầu về đội ngũ giáo viên chất lượng cao ở vùng DTTS&MN càng trở nên cấp bách. Ngoài ra, Nghị quyết còn yêu cầu mở rộng các chính sách hỗ trợ tài chính, tín dụng ưu đãi cho người học, không để học sinh, sinh viên nào phải bỏ học vì điều kiện tài chính…

Nghị quyết còn đề ra một số định hướng cần chú ý, đó là: “Toàn xã hội có trách nhiệm chăm lo, tham gia đóng góp nguồn lực và giám sát phát triển giáo dục”, “giáo dục đảm bảo hài hòa giữa tính toàn dân và tinh hoa, toàn diện và chuyên sâu, dân tộc và toàn cầu. Phát triển giáo dục trên nền tảng văn hóa, giá trị truyền thống dân tộc”. Đối với vùng đồng bào DTTS&MN, cụ thể hóa các định hướng này là cơ hội để phát triển nhiều mô hình giáo dục đào tạo sáng tạo như: lớp học bảo tồn văn hóa dân tộc; các chương trình học nghề tại bản làng là sự kết hợp giữa nhu cầu của doanh nghiệp với người dân địa phương trong các lĩnh vực: trồng rừng, sản xuất nông nghiệp, sản xuất nghề thủ công truyền thống, làm du lịch cộng đồng… Những lớp học này nếu được triển khai rộng rãi sẽ tạo ra mô hình “giáo dục thực hành - thực tế - gắn với sinh kế”, rất phù hợp với quan điểm của Nghị quyết là giáo dục đào tạo phải bảo đảm “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, “nhà trường gắn liền với xã hội”, đồng thời biến di sản thành tài sản từ tiềm năng văn hóa, tri thức địa phương vô cùng dồi dào và độc đáo của cộng đồng các DTTS. Sự kết hợp giữa giáo dục nghề nghiệp với nhu cầu phát triển kinh tế vùng có thể giúp thanh niên DTTS lập nghiệp ngay tại quê hương, vừa có việc làm, vừa thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, giảm tình trạng ly hương, hạn chế xáo trộn xã hội ở vùng đồng bào DTTS&MN. Ngoài ra, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cá nhân, từ người thành đạt đến kiều bào ta ở nước ngoài đều có thể trở thành một phần của hệ sinh thái phát triển giáo dục dân tộc thông qua các hoạt động: trao học bổng, mở lớp học tình nguyện, các dự án trao tặng thư viện, phòng máy, hỗ trợ giáo viên, gói tài trợ Internet… góp phần thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các vùng miền, dân tộc.

2. Kết luận

Nghị quyết số 71-NQ/TW là bước ngoặt về tầm nhìn, chính sách đối với giáo dục và đào tạo của cả nước nói chung, giáo dục dân tộc nói riêng. Tinh thần đột phá trong Nghị quyết được bắt đầu từ sự đổi mới tư duy, nhận thức và thể chế, với những nhiệm vụ, giải pháp rõ ràng, cụ thể, hy vọng sẽ trở thành động lực thúc đẩy phát triển bền vững giáo dục và đào tạo ở vùng đồng bào DTTS&MN, góp phần thực hiện thành công tầm nhìn và chiến lược mới của hệ thống giáo dục quốc gia trong bối cảnh công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đang tái định hình nền giáo dục trên phạm vi toàn cầu./.

Tài liệu tham khảo

1, 2. Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương, Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0h (ngày 01/4/2019), Nxb Thống kê, Hà Nội, 2019.

3. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

4. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), Cập nhật, rà soát kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024, cema.gov.vn

5. Quốc hội (2019), Nghị quyết số 88/2019/QH14 phê duyệt Đề án Tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.