Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Du lịch văn hóa - Nguồn lực phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi trong kỷ nguyên mới của đất nước

Nguyễn Thị Phương Thảo - 17 giờ trước

(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của du lịch văn hóa; Phân tích tài nguyên và thực trạng phát triển du lịch văn hóa; Đánh giá những tác động đa chiều của du lịch văn hóa đối với phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong kỷ nguyên mới của đất nước.

Từ khóa: Du lịch văn hóa; Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Phát triển bền vững.

Quần thể chùa Khmer tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
Quần thể chùa Khmer tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

 1. Đặt vấn đề

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc trong sự thống nhất, với 54 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có 53 dân tộc thiểu số (DTTS). Trải qua tiến trình lịch sử lâu dài, các DTTS đã sáng tạo và gìn giữ kho tàng văn hóa phong phú, thể hiện qua tiếng nói, chữ viết, lễ hội, tín ngưỡng, tri thức dân gian, nghệ thuật trình diễn, nghề thủ công truyền thống và không gian sinh hoạt cộng đồng đặc trưng. Văn hóa các DTTS tạo nên bức tranh văn hóa đặc sắc và luôn là bộ phận hữu cơ cấu thành nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng.

Trong bối cảnh hiện nay, văn hóa các DTTS được nhìn nhận không chỉ là di sản cần bảo tồn, mà còn là nguồn lực quan trọng cho phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch. Với tư cách là một ngành kinh tế tổng hợp, du lịch có khả năng kết nối tài nguyên thiên nhiên, giá trị văn hóa và nhu cầu trải nghiệm của xã hội. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN), văn hóa chính là yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc, sức hấp dẫn và tính khác biệt của sản phẩm du lịch.

Thực tiễn cho thấy, khi được tổ chức và quản lý phù hợp, du lịch văn hóa (DLVH) không chỉ tạo sinh kế, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào DTTS, mà còn trở thành động lực thúc đẩy bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Nghiên cứu, nhận diện đúng vai trò của DLVH như một nguồn lực phát triển đối với vùng đồng bào DTTS&MN là yêu cầu có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.

2. Khái niệm văn hóa và văn hóa các dân tộc thiểu số

Năm 1988, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra giải thích: Văn hóa phản ánh và thể hiện tổng quát, sống động mọi mặt cuộc sống của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại. Qua bao thế kỷ, nó cấu thành hệ thống các giá trị truyền thống, thẩm mỹ và lối sống, mà dựa vào đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh có định nghĩa kinh điển, hiện được sử dụng phổ biến trong các lý thuyết nghiên cứu về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [1].

Tiếp cận dưới các khái niệm này, có thể hiểu “văn hóa các DTTS là toàn bộ những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể do các cộng đồng tộc người thiểu số sáng tạo ra trong quá trình sinh tồn và phát triển, gắn với môi trường tự nhiên và xã hội; Nó phản ánh những đặc điểm trong tư duy và lao động sáng tạo của mỗi tộc người trong các giai đoạn phát triển với các thông tin về nội hàm và ngoại diên phản ánh sự vận động nội tại và trong mối quan hệ văn hóa ở cấp độ tộc người và quốc gia” [3].

3. Khái niệm du lịch văn hóa và mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch

Khoản 17, Điều 3 Luật Du lịch năm 2017 định nghĩa: “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh giá trị văn hóa mới của nhân loại”.

Từ định nghĩa này, DLVH có các đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, DLVH lấy giá trị văn hóa làm giá trị cốt lõi. Khác với các loại hình du lịch dựa chủ yếu vào tài nguyên tự nhiên hoặc dịch vụ nghỉ dưỡng, DLVH được hình thành và phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị văn hóa, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể. Văn hóa là yếu tố quyết định bản sắc, nội dung và sức hấp dẫn của sản phẩm du lịch thông qua cung cấp cho du khách những khám phá, hiểu biết về văn hóa, lịch sử của điểm đến từ các trải nghiệm di tích văn hóa, lịch sử, lễ hội truyền thống, làng nghề, phong tục tập quán, tri thức địa phương, ẩm thực… của cộng đồng tại điểm du lịch.

Thứ hai, DLVH gắn chặt với mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống.

Theo tinh thần của Luật Du lịch năm 2017, DLVH không dừng lại ở việc khai thác để tạo lợi ích kinh tế, mà phải đồng thời góp phần bảo tồn, gìn giữ và làm sống động các giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống đương đại. Đây là đặc điểm phân biệt DLVH với các hình thức khai thác văn hóa thuần túy mang tính thương mại. “Việc nâng cao hiểu biết và trải nghiệm mà du khách có được khi tham gia các chương trình DLVH luôn đi liền với việc thay đổi nhận thức và thái độ ứng xử của du khách với những đóng góp cụ thể cho việc bảo tồn và lan tỏa các giá trị văn hóa, lịch sử ở điểm đến du lịch. Đây là một trong những đặc điểm quan trọng, đồng thời cũng là mục tiêu phát triển DLVH” [2].

Thứ ba, DLVH mang tính mở, hướng tới tiếp biến và sáng tạo văn hóa.

Định nghĩa của Luật Du lịch năm 2017 không chỉ nhấn mạnh việc bảo tồn giá trị truyền thống, mà còn đề cập tới việc “tôn vinh giá trị văn hóa mới của nhân loại”. Điều này cho thấy DLVH là quá trình tương tác hai chiều, trong đó văn hóa địa phương được giới thiệu, lan tỏa, đồng thời tiếp nhận những giá trị tiến bộ, phù hợp từ bên ngoài.

Như vậy, văn hóa trong du lịch không chỉ là đối tượng để khai thác mà còn là nền tảng định hình bản sắc, sức hấp dẫn và tính bền vững của sản phẩm du lịch. Trong nghiên cứu này, DLVH được tiếp cận trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển bền vững, du lịch cộng đồng và du lịch sinh thái. Phát triển bền vững đặt ra yêu cầu hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và gìn giữ bản sắc văn hóa. Du lịch cộng đồng nhấn mạnh vai trò chủ thể của người dân địa phương trong tổ chức, quản lý và hưởng lợi từ hoạt động du lịch. Du lịch sinh thái hướng tới khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên gắn với bảo vệ môi trường và giáo dục ý thức bảo tồn. Đối với vùng đồng bào DTTS&MN, ba cách tiếp cận này có mối quan hệ bổ trợ chặt chẽ, tạo nên khung lý luận quan trọng cho phát triển DLVH theo hướng bền vững.

Giữa văn hóa và du lịch có mối quan hệ chặt chẽ. Văn hóa là kết tinh của lịch sử, môi trường sống, tri thức địa phương và các giá trị tinh thần được tích lũy, truyền nối qua nhiều thế hệ, là tài nguyên cốt lõi trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, trong đó có du lịch. Du lịch, với tư cách là một ngành kinh tế tổng hợp, có khả năng chuyển hóa các giá trị văn hóa thành sản phẩm và dịch vụ mang lại lợi ích kinh tế - xã hội. “Văn hóa và du lịch là hai yếu tố không thể tách rời, có mối quan hệ tương hỗ. Văn hóa là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển du lịch và du lịch là con đường nhanh nhất giúp lan toả các giá trị văn hóa” [4].

Khi được tổ chức và quản lý phù hợp, du lịch không chỉ góp phần quảng bá, lan tỏa giá trị văn hóa các DTTS mà còn tạo động lực để cộng đồng chủ động bảo tồn di sản, khôi phục nghề truyền thống, gìn giữ lễ hội và tri thức địa phương. Ngược lại, văn hóa chính là yếu tố tạo nên sự khác biệt, sức cạnh tranh và chiều sâu cho sản phẩm du lịch.

4. Tài nguyên và phát triển du lịch văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hiện nay

Khoản 4, Điều 3 Luật Du lịch năm 2017 giải thích: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên DLVH”.

Tài nguyên du lịch tự nhiên ở vùng đồng bào DTTS&MN là bộ phận đặc biệt quan trọng của hệ thống tài nguyên du lịch quốc gia, bao gồm các yếu tố về địa hình, địa mạo, khí hậu, cảnh quan, hệ sinh thái và đa dạng sinh học, được hình thành và bảo tồn trong không gian tự nhiên rộng lớn chiếm ¾ diện tích tự nhiên của cả nước, ít chịu tác động của đô thị hóa. Đặc trưng nổi bật của tài nguyên du lịch tự nhiên ở khu vực này là tính đa dạng và độc đáo, thể hiện qua các dãy núi cao, cao nguyên, thung lũng, hang động, thác nước, sông suối, rừng nguyên sinh, rừng đặc dụng, cùng nhiều vùng khí hậu đặc thù. Chính sự đa dạng đó tạo nên sức hấp dẫn riêng cho các loại hình du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch trải nghiệm và du lịch khám phá.

Không chỉ có giá trị về cảnh quan, tài nguyên du lịch tự nhiên ở vùng đồng bào DTTS&MN còn gắn chặt với đời sống, sinh kế và văn hóa của cộng đồng các DTTS. Không gian tự nhiên vừa là môi trường sinh tồn, vừa là nền tảng hình thành tri thức dân gian, phong tục tập quán và các hình thức sinh hoạt văn hóa đặc trưng của từng dân tộc, thể hiện qua hệ thống làng bản truyền thống, kiến trúc nhà ở đặc trưng, di tích lịch sử - văn hóa gắn với quá trình hình thành và phát triển của mỗi dân tộc. Về di sản văn hóa phi vật thể, nổi bật là kho tàng lễ hội truyền thống, dân ca, dân vũ, nhạc cụ dân tộc, nghề thủ công, tri thức dân gian và các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng… Sự đan xen giữa yếu tố văn hóa và tự nhiên, nhất là sự đa dạng văn hóa của 53 DTTS đã tạo nên không gian du lịch giàu bản sắc cho vùng đồng bào DTTS&MN.

Những năm gần đây, phát triển DLVH ở vùng đồng bào DTTS&MN đã trở thành một trong những định hướng chiến lược của quốc gia, của ngành du lịch và của các địa phương có đông người DTTS sinh sống, nhằm chuyển hóa các giá trị văn hóa, lịch sử và thiên nhiên thành nguồn lực phát triển bền vững.

Ở cấp quốc gia, Dự án 6: Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các DTTS gắn với phát triển du lịch trong Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2025 đã hỗ trợ đầu tư xây dựng, bảo tồn 48 làng, bản tiêu biểu của các DTTS, 69 điểm đến du lịch tiêu biểu; Bảo tồn, phát huy 124 lễ hội truyền thống các DTTS; Hỗ trợ hoạt động cho 695 câu lạc bộ sinh hoạt văn hóa dân gian và 5.760 đội văn nghệ truyền thống tại các thôn, bản vùng đồng bào DTTS&MN; Tổ chức 08 ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các DTTS; Triển khai 33 chương trình khôi phục, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa truyền thống của các DTTS có dân số ít...

Ở cấp địa phương, nhiều tỉnh đã đưa thành công DLVH các DTTS thành trụ cột trong chiến lược phát triển, tạo điểm đến hấp dẫn du khách nội địa và quốc tế. Tại miền núi phía Bắc, Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang được Tổ chức Giải thưởng Du lịch Thế giới vinh danh là “Điểm đến văn hóa hàng đầu thế giới năm 2025”. Cao nguyên đá Đồng Văn là không gian sinh tồn của 17 dân tộc, với kho tàng văn hóa đặc sắc: Nhà trình tường cổ, lễ hội khèn Mông, chợ phiên vùng cao, phong tục cấp sắc của người Dao… tạo nên bản sắc đậm đà, hòa quyện giữa thiên nhiên - văn hóa - con người, làm nên thương hiệu “Miền đá nở hoa” của tỉnh. Làng Lô Lô Chải của đồng bào Lô Lô (xã Lũng Cú) được nhận danh hiệu “Làng du lịch tốt nhất thế giới năm 2025” từ Tổ chức Du lịch Thế giới tôn vinh điểm đến nông thôn có thành tích trong bảo tồn văn hóa, thiên nhiên, phát triển du lịch bền vững và nâng cao sinh kế cho cộng đồng… Tại Quảng Trị, du lịch cộng đồng gắn với khám phá văn hóa của người Bru-Vân Kiều, Chứt… kết hợp với khám phá hệ thống hang động Phong Nha - Kẻ Bàng nổi tiếng, tuyến đường Trường Sơn lịch sử là sản phẩm du lịch hấp dẫn với khách quốc tế...

Thực tiễn cho thấy, các mô hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái gắn với văn hóa các DTTS đang là hướng đi phù hợp ở vùng đồng bào DTTS&MN. Trong mô hình này, đồng bào DTTS giữ vai trò trung tâm, trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ lưu trú, ẩm thực, hướng dẫn trải nghiệm văn hóa, qua đó vừa tăng thu nhập, vừa nâng cao ý thức bảo tồn di sản. Ngoài ra, du lịch di sản gắn với các di tích lịch sử, văn hóa, không gian văn hóa truyền thống cũng góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch ở vùng đồng bào DTTS&MN.

5. Tác động của du lịch văn hóa đối với sự phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Thứ nhất, về kinh tế. DLVH góp phần tạo nguồn thu ngân sách cho các địa phương. Chẳng hạn tại tỉnh Lào Cai, nơi tập trung đa dạng các DTTS và di sản văn hóa, năm 2025, tổng thu từ du lịch đạt khoảng 46.000 tỷ đồng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế - xã hội của tỉnh. Tỉnh Tuyên Quang đạt doanh thu 10.000 tỷ đồng… Qua đó, cơ cấu kinh tế ở vùng đồng bào DTTS&MN từng bước chuyển dịch theo hướng đa dạng hơn, giảm phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp truyền thống. Du lịch phát triển kéo theo đầu tư vào hạ tầng giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc… tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào DTTS&MN. Nhiều hộ gia đình tham gia vào các hoạt động dịch vụ du lịch như lưu trú, ẩm thực, bán sản phẩm thủ công, biểu diễn nghệ thuật dân gian nên có thêm sinh kế, việc làm và nguồn thu nhập.

Thứ hai, về xã hội. Du lịch văn hóa góp phần tăng cường sự gắn kết cộng đồng, khơi dậy niềm tự hào về bản sắc dân tộc, nâng cao nhận thức của người dân về giá trị văn hóa truyền thống. Thông qua giao lưu với du khách, cộng đồng DTTS có cơ hội mở rộng tầm nhìn, tiếp cận tri thức mới, từng bước nâng cao kỹ năng tổ chức, quản lý và cung cấp dịch vụ. DLVH còn góp phần thúc đẩy bình đẳng giới khi phụ nữ và thanh niên DTTS có thêm cơ hội tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội, khẳng định vai trò trong gia đình và cộng đồng.

Thứ ba, về văn hóa. DLVH tạo động lực cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Nhiều lễ hội, nghề thủ công, loại hình nghệ thuật dân gian được phục dựng, duy trì và truyền dạy cho thế hệ trẻ thông qua hoạt động du lịch. Các chương trình giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể thu hút nghệ nhân các DTTS trình diễn nghệ thuật truyền thống, như: hát Then, múa, nhạc cụ… tạo cơ hội quảng bá rộng rãi và nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị di sản gắn với sản phẩm du lịch địa phương.

6. Kết luận

Du lịch văn hóa là nguồn lực quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân vùng đồng bào DTTS&MN.

Khai thác hợp lý các giá trị văn hóa không chỉ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống của đồng bào DTTS mà còn đóng vai trò thiết yếu trong bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc.

Tài liệu tham khảo

1. Đặng Thị Minh Nguyệt (2022). Một số quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa và nâng tầm văn hóa Việt Nam, truy cập tại:

https://www.tapchicongsan.org.vn/van_hoa_xa_hoi/-/2018/826302/mot-so-quan-diem-cua-chu-tich-ho-chi-minh-ve-van-hoa-va-nang-tam-van-hoa-viet-nam.aspx

2. Đỗ Trần Phương, Phạm Thị Hải Yến (2025). Du lịch văn hóa tâm linh Ninh Bình dưới góc nhìn công nghiệp văn hóa, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học quốc tế “Công nghiệp văn hóa với phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam”.

3. Lê Ngọc Thắng (chủ biên, 1997). Dân tộc học đại cương, tập II, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.

4. Nguyễn Thị Thu Trang, Nguyễn Thị Lan Hương (2025). Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với du lịch: Động lực mới cho kinh tế sáng tạo ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học quốc tế “Công nghiệp văn hóa với phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam”.