Từ khóa: Giá trị đạo đức; Giáo lý; Tôn giáo Baha’i
Đại diện tôn giáo Baha’i từ 176 quốc gia bỏ phiếu bầu ra Tòa Công lý Quốc tế (ngày 29/4/2023)1. Đặt vấn đề
Baha’i là một tôn giáo được phát triển từ nhánh Shi’ite của Islam, ra đời năm 1844 tại Shiraz, Ba Tư (nay là Iran). Đức tin Baha’i được tuyên xưng bởi một thương nhân trẻ người Iran lấy danh xưng là Bab. Ông cho rằng mình là đấng nối tiếp theo dòng của các nhà tiên tri Moses, Jesus Christ, Muhammad. Baha’i ra đời trong bối cảnh kinh tế, xã hội và đời sống văn hóa, tín ngưỡng của Ba Tư giữa thế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX có nhiều chuyển biến sâu sắc. Ba Tư rơi vào tình trạng suy thoái và khủng hoảng về kinh tế đưa đến tình trạng rối ren trong xã hội. Khởi đầu bằng triều đại Qajar (1781-1925), Thủ đô được đặt tại Tehran. Trước những tiến bộ vượt bậc của châu Âu, một phần lãnh thổ của Ba Tư bị mất dần. Hơn nữa, với hai lần chiến tranh nổ ra giữa Nga - Ba Tư, khiến tình cảnh đất nước càng trở nên khó khăn hơn. Đời sống nhân dân vô cùng khổ cực, tình trạng suy thoái về đạo đức, nạn cướp bóc, giết chóc xảy ra phổ biến trong xã hội... Chính điều này, là những nguyên nhân trực tiếp đưa đến các phong trào cải cách xã hội và tôn giáo. Tiền thân ảnh hưởng từ phong trào tín ngưỡng Babis, tôn giáo Baha’i đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của đông đảo dân chúng Ba Tư. Là một tôn giáo hướng đến hòa bình và sự hòa hợp đời sống tâm linh, tín ngưỡng, đề cao tư tưởng liên tôn, những giá trị đạo đức trong giáo lý tôn giáo Baha’i do các đấng biểu hiện của Thượng Đế Baha’i truyền bá và được tập hợp, chép ghi trong Thánh Kinh Baha’i không chỉ góp phần xây dựng nền tảng tinh thần đạo đức cho xã hội rối ren đương thời mà còn có ý nghĩa thời đại sâu sắc.
2. Văn bản Thánh Kinh truyền tải giáo lý tôn giáo Baha’i
Toàn bộ nội dung giáo lý của Tôn giáo Baha’i được nhấn mạnh trong các tác phẩm của Baha’u’llah - được coi là “Lời Thượng Đế”, các tác phẩm diễn giải đức tin Baha’i của Abdu’l Baha, Shoghi Effendi và các điều luật của Tòa công lý toàn cầu. Tôn giáo Baha’i với hệ thống văn bản kinh điển thiêng liêng, phong phú. Baha’i xem mỗi nhà tiên tri sáng lập ra các tôn giáo lớn trên thế giới đều là biểu hiện cho tên gọi và thuộc tính của Thượng Đế (Manifestations of God). Nói như vậy, không có nghĩa là Baha’i kế thừa toàn bộ kinh điển của các tôn giáo lớn để làm kinh điển của đạo. Ngay cả những tư tưởng của Bab - người đặt nền móng cho Baha’i cũng chỉ được xem là tiền thân cho những tư tưởng của của Baha’u’llah. Baha’i cho rằng sự vĩ đại của thời đại này đòi hỏi sự xuất hiện của hai nhân vật tôn giáo vĩ đại, và theo nghĩa này, Bab có cùng tầm vóc của Chúa Ki-tô, Muhammad, Baha’u’llah, và tất cả những người sáng lập ra các tôn giáo trên thế giới. Do đó, ông là người sáng lập ra tôn giáo của riêng mình với kinh sách và luật lệ riêng. Các tác phẩm của Bab được coi là sự mặc khải của thần thánh.
Bab viết nhiều tác phẩm (khoảng 100 quyển), một số trong số đó đã bị thất lạc, chỉ một phần nhỏ tác phẩm của ông được lưu hành rộng rãi trong số những người theo ông. Bab viết bằng cả tiếng Ba Tư và tiếng A-rập. Trong số các tác phẩm của Bab, tác phẩm nổi tiếng nhất và được lưu hành rộng rãi nhất là “Qayyum ul-Asma” (Sự trường tồn của các đấng tiên tri) được tuyên bố năm 1844 bằng tiếng A-rập. Tác phẩm đề cập chủ yếu về thần học, người Baha’i thường gọi là “Kinh Qur’an của Babis”. Đầu năm 1848, ông viết các “Bayan” gồm những lời dạy thần học và xã hội cũng như pháp luật. Cuốn sách này, ông đề cập đến “Đấng mà Đức Chúa Trời sẽ tỏ ra” đang sắp đến. Một tác phẩm khác của Bab là “Seven proofs” (Bảy bằng chứng), trong đó ông đưa ra các bằng chứng về sứ mệnh của mình.
Trong hệ thống kinh điển của Baha’i, các tác phẩm của Baha’u’llah đóng vai trò đặc biệt quan trọng, vì đó mới chính là “sự mặc khải”, ngôi Lời của Thượng Đế. Những tác phẩm này bao gồm: Các bức thư của ông gửi cho các hoàng đế châu Âu, Giáo hoàng, Quốc vương Ba Tư, Chính phủ Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ và những cá nhân khác như những tín hữu, đồng đạo... và một số cuốn sách được ông viết trong suốt thời gian bị giam cầm và lưu đày. Là một tôn giáo kinh điển nên Baha’i rất chú trọng, chỉ chấp nhận và y cứ theo những văn bản viết. Các truyền khẩu bằng miệng, mặc dù chúng tồn tại nhưng đối với người Baha’i thì không đáng tin cậy. Hầu hết tác phẩm của Baha’u’llah là sự pha trộn giữa tiếng A-rập và tiếng Ba Tư. Có một số tác phẩm thuần túy hoàn toàn bằng tiếng Ba Tư hoặc tiếng A-rập. Tất cả các tác phẩm của Baha’u’llah được Baha’i coi là sự mặc khải của thần thánh. Quan trọng nhất trong số này là Kitab-i-Aqdas (Sách Thánh).
Các tác phẩm được viết theo thời gian gắn với cuộc đời lưu đày và bị giam cầm của Baha’u’llah. Tại Baghdad, những tác phẩm ban đầu được ông viết bao gồm: Kitab-i-Iqan (Sách về Chứng nhận); Sách cách ngôn về tinh thần và đạo đức, những từ ẩn; Hai luận thuyết huyền bí, bảy thung lũng; Bốn thung lũng và rất nhiều thơ ca huyền bí. Trong khi Baha’u’llah ở Edirne, ông đã viết một số tác phẩm, cũng như một loạt thư tín gửi các vị vua và những người cai trị thế giới, tuyên bố sứ mệnh của mình, giải thích những lời dạy của mình và kêu gọi những nhà lãnh đạo này thực hiện những bước đầu tiên hướng tới hòa bình thế giới: “cuốn sách này là Sách Thánh của Đức Chúa Trời, về sự linh ứng từ thiên thượng. Đó là Kinh Thánh của sự cứu rỗi, là Phúc âm cao quý. Đó là sự huyền bí của vương quốc và ánh sáng của Thượng Đế. Đó là tiền thưởng thần thánh, dấu hiệu của sự hướng dẫn mà Thượng Đế chỉ bày”.
Phần lớn các tác phẩm của Baha’u’llah có từ thời kì ở Akka, đặc biệt là những năm cuối đời tại Bahji. “Cuốn sách quan trọng nhất, Kitab-i-Aqdas (Sách Thánh) có từ đầu thời kì Akka (năm 1873) thể hiện các luật lệ, thần học, giáo lý xã hội và hướng dẫn liên quan đến các thể chế Baha’i. Tiếp theo nhiều bài viết (các tác phẩm ngắn) về những lời dạy xã hội và những cải cách dự tính cho thế giới. Các tác phẩm này đã phổ biến sau khi ông qua đời và chỉ định Abdu’l Baha là người kế vị”. Thánh Kinh Baha’i đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống cộng đồng Baha’i. Các văn bản thánh của Baha’i bao gồm: 1. Các tác phẩm của Bab và Baha’u’llah được coi là khải huyền; 2. Các tác phẩm của Abdu’l Baha được công nhận là thiêng liêng; 3. Kinh sách của các tôn giáo khác, bao gồm những lời dạy của người sáng lập chẳng hạn như: Phật, Moses, Jesus, Muhammad cũng được coi là Thần khải; 4. Kinh Qur’an, Kinh Thánh, Kinh Bái hỏa giáo được xem là đáng tin cậy.
Trong việc thờ kính của Baha’i, ngoài việc bắt buộc tuân thủ các tín ngưỡng và thực hành, đọc Thánh Kinh Baha’i, thì tín đồ có thể hoàn toàn được phép đọc kinh sách của các tôn giáo khác như là một phần trong việc thờ kính Baha’i. Bởi, sự giáo dục đức tin của Baha’i là luôn hướng đến sự công bằng, tránh phân biệt, chia rẽ tôn giáo và mong muốn tín đồ phải luôn ý thức được sự hòa hợp tôn giáo trong thế giới toàn cầu. Hơn nữa, theo người Baha’i, mỗi tôn giáo trong kinh sách của họ đều thể hiện tính lịch sử và những luật lệ hay giáo lý phù hợp với thời đại riêng của nó.
3. Một số giá trị đạo đức trong giáo lý tôn giáo Baha’i
Giáo lý Baha’i nhấn mạnh niềm tin vào Thượng Đế và sự biểu lộ đức tin cũng như sự mặc khải liên tục hay các nguyên lí về bình đẳng và sự giáo dục, hòa hợp tôn giáo. Người Baha’i tin tưởng vào sự màu nhiệm của Thượng Đế, Thượng Đế là đấng tối cao duy nhất được biểu hiện thông qua các nhà tiên tri trong quá khứ và Đấng Baha’u’llah trong hiện tại. Theo người Baha’i, Thượng Đế là đấng mà về bản chất không ai biết được. Có nghĩa rằng dù là người thông minh hay khôn ngoan như thế nào, cũng không thể hiểu bản chất của Ngài. Thượng Đế là đấng Sáng tạo vũ trụ và vạn vật trong đó có loài người. Nhân loại do Thượng Đế tạo ra do tình yêu của Ngài. Baha’u’llah chỉ dạy tín đồ rằng: “Đối với mọi tâm hồn sáng suốt và giác ngộ thì rõ ràng là Thượng Đế, Bản thể không ai biết, đấng Thiên thượng, là vô cùng cao cả vượt trên mọi đặc tính của con người, như là sự tồn tại thân xác, lên và xuống, tiến và lùi. Vinh quang Ngài vô cùng cao xa, không lưỡi nào đủ sức dâng lời chúc tụng Ngài một cách thích hợp, không tâm hồn nào hiểu được sự huyền bí khôn dò của Ngài. Ngài đã từng và đang còn phong kín trong tôn chất vĩnh hằng cố cựu của Ngài và sẽ còn ẩn mình đời đời trong thực thể của Ngài đối với mắt loài người. Không nhãn quan nào chứa được Ngài, nhưng Ngài thấu rõ mọi nhãn quan; Ngài là đấng Tinh tế, đấng Toàn giác..”.
Ra đời trong bối cảnh xã hội hiện đại, giáo lý của tôn giáo Baha’i không giống như các tôn giáo truyền thống là đề cao vai trò của đấng Sáng thế qua những thần tích, huyền thoại về sự sáng tạo này. Bao quát trong giáo lý Baha’i là những câu chuyện về lịch sử tôn giáo của nhân loại. Baha’i xem lịch sử thế giới được đánh dấu bởi sự xuất hiện của các nhân vật linh thiêng. Đó là những người sáng lập ra các tôn giáo trên thế giới. Họ là những bậc thầy hướng dẫn tâm linh, tinh thần nhân loại trong mỗi giai đoạn của lịch sử xã hội loài người. Thượng Đế trong đức tin của người Baha’i được biểu hiện là những “thực thể đặc biệt truyền đạt cho nhân loại lời và ý chí của Ngài. Khi lắng nghe các đấng ấy là chúng ta đang nghe được tiếng gọi của Thượng Đế. Một số đấng biểu hiện của Thượng Đế trước đây như: Đức Phật, Chúa Jesus Christ, Muhammad... và Baha’ullah là đấng biểu hiện của Thượng Đế trong thời hiện tại, đấng giáo tổ của tôn giáo Baha’i”.
Thông qua những tác phẩm của mình, Baha’u’llah kể về những nhà tiên tri trong quá khứ gắn liền với những thông điệp tâm linh cụ thể. Cuốn Kitab-i-Iqan (Sách về Chứng nhận), dẫn ra những câu chuyện của nhiều nhà tiên tri trong Kinh Thánh. Các nhà tiên tri là sứ giả của Chúa, mang theo các khải thị của Ngài về lý thiện và lẽ công bằng cho mọi quần chúng lao khổ. Do đó, họ luôn bị thế lực thống trị trong các xã hội bóc lột tìm mọi cách để đàn áp và phủ nhận vai trò lãnh đạo tôn giáo của họ. Tâm linh chính thiện của tôn giáo chính là đời sống hướng dẫn tín đồ tìm đến với cái bản chất, giá trị của sự giải thoát chứ không phải chỉ là những sự giải thoát về hình thức, bề ngoài. Đến với cốt lõi thực sự của tâm linh, có được thực tại tâm linh chính là có sự hòa hợp của con người với sứ điệp của Đức Chúa Trời trong mọi thời đại. Tín đồ cần phải luôn sáng suốt lựa chọn sự hoà hợp, vừa làm theo những truyền thống, phong tục của Tổ tiên nhưng đồng thời cùng cần có sự dẫn lối tâm linh của các nhà lãnh đạo tôn giáo chân chính, đương thời - người đó chính là Baha’u’llah.
Giáo lý Baha’i cho rằng do mặc khải liên tục nên tất cả các tôn giáo đều có chung một nguồn gốc thiêng liêng. Giao ước trường tồn trong Kinh Thánh Baha’i chỉ ra rằng, Thượng Đế luôn dẫn dắt và giáo dục loài người qua một chuỗi các đấng Sứ giả Thiên thượng của Ngài, còn được gọi là các đấng biểu hiện của Thượng Đế như: Krishna (Ấn Độ giáo), Moses (Do Thái giáo), Zoroaster (Bái hoả giáo), Buddha (Phật giáo), Christo (Ki-tô giáo), Muhammad (Islam), Bab (tôn giáo Babis) và Baha’u’llhah (tôn giáo Baha’i). “Các đấng Sứ giả của Thượng Đế là những người thầy đầu tiên và chính yếu. Mỗi khi thế giới trở nên tối tăm, có sự bất đồng ý kiến và thờ ơ, Thượng Đế sẽ cử đến một đấng Sứ giả Thiêng liêng của Ngài”. Bởi theo Baha’i các đấng Tiên tri là những nhà giáo dục không chỉ trong đời sống mà còn cả đức tin, đời sống tâm linh cho con người: “Các đấng Tiên tri của Thượng Đế là những nhà giáo dục đầu tiên. Các ngài ban nền giáo dục chung cho con người, nâng con người từ mức man dã thấp nhất lên đỉnh chót vót của sự phát triển tâm linh”. Sự xuất hiện của các đấng Tiên tri ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau với những ngôi lời của Thượng Đế ban cho con người, cải hóa, hướng thiện bản chất con người là một quá trình liên tục, mà người Baha’i gọi là “mặc khải liên tục”. Mặc khải liên tục được xuất hiện tự muôn đời trong lịch sử và sẽ không bao giờ chấm dứt. Đức Baha’u’llah, Giáo tổ của Baha’i cũng phán truyền sau Baha’i trên 1.000 năm sẽ có một đấng biểu hiện khác của Thượng Đế đến với nhân loại để đưa nền văn minh của nhân loại tiếp tục tiến xa hơn nữa.
Người Baha’i luôn tin tưởng rằng tất cả các tôn giáo lớn đều đến từ một Thượng Đế duy nhất. Giáo lý của mỗi tôn giáo đều tồn tại hai phần: mặt tâm linh và xã hội là tất yếu. Mặt tâm linh thì trường tồn vĩnh cửu còn mặt xã hội và những nghi thức thì mang tính tạm thời và phụ thuộc. Giáo lý của các ngài “xuất phát từ một nguồn, là những tia sáng của cùng một thứ ánh sáng. Điều khác nhau giữa các ngài là sự đáp ứng những nhu cầu của thời đại mà các ngài xuất hiện”. Nhưng xét về cơ bản thì nền tảng chung của các tôn giáo vẫn được thể hiện ra đó là sự thống nhất tính tâm linh. Tín đồ cần phải nhận thức, có sự hiểu biết và mặc khải liên tục của tôn giáo Baha’i. Bởi điều đó chính là yếu tố quan trọng để tạo nên sự hòa hợp cũng như mắt xích, cầu nối liên tôn, đoàn kết và yêu quý chân thành lẫn nhau giữa các tôn giáo trên thế giới trong kỷ nguyên mới. Các tôn giáo lớn của nhân loại luôn tồn tại trong hoà bình, hữu nghị và bổ sung lẫn nhau. “Mỗi tôn giáo giữ một vai trò quan trọng trong công cuộc tiến hóa của nhân loại, đưa nền văn minh nhân loại tiến mãi không ngừng, để đạt được mục tiêu chung là sự thống nhất, tình huynh đệ đại đồng và hòa bình thế giới”.
Mọi người đều thuộc một gia đình, gia đình nhân loại, vì đều là con của Thượng Đế: Baha’u’llah trong Thánh Thư chỉ ra rằng con người là sinh vật mà Thượng Đế đã tách riêng và ban cho năng lực cao quý để biết Ngài và tôn thờ Ngài: “Khi tạo nên thế giới với mọi thứ sống và di động trong đó, qua hoạt động trực tiếp của ý chí tối thượng và không giới hạn, Thượng Đế đã chọn ban cho con người sự phân biệt và khả năng độc đáo để biết Ngài và yêu Ngài - một khả năng phải được coi như động cơ phát sinh là mục đích chính của cả tạo vật...”. Con người cũng có linh hồn và phần linh hồn sẽ trường tồn mãi mãi. Cuộc sống ở cõi trần gian chỉ là đời sống ngắn ngủi, bắt đầu cho đời sống vô tận này. Vì vậy, con người không phải lo sợ về cái chết, phải luôn tạo sự vững tin, cũng như tinh thần chờ đón cho cuộc sống đời sau vô tận ở cõi bên kia. Do đó, sự chết của thân xác như chính sự sống, sự sinh của linh hồn trong một giai đoạn mới của cuộc sinh tồn: “Sự tiến bộ của linh hồn con người không chấm dứt với cái chết. Nhưng nó tiến theo một hướng mới. Đức Baha’u’llah dạy rằng những tiềm năng vô cùng lớn lao đang chờ đợi linh hồn ở thế giới bên kia. Sự tiến bộ tâm linh trong cõi ấy là vô tận, và không người nào, trong khi còn sống trên trái đất này, có thể hình dung đầy đủ năng lực và tầm vóc của nó”.
Baha’i tin rằng, mục đích của sự tiến triển linh hồn trong cuộc đời chính là sự phát triển những đặc tính cần thiết cho sự tiến bộ không ngừng để đạt sự hoàn hảo của đời sống cá nhân. Để làm được điều đó, giáo lý Baha’i cũng khuyên nhủ tín đồ luôn bảo vệ cho sự công bằng cũng như giúp đỡ mọi người, luôn liêm chính, ngay thẳng, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc và giai cấp: “Đừng bất công với bất cứ ai, và phải hết sức khiêm tốn với mọi người. Hãy là ngọn đèn cho những kẻ đi trong bóng tối, là niềm vui cho những người sầu não, là đại dương cho những kẻ khát nước, là nơi nương náu đối với kẻ hoạn nạn, là người nâng đỡ và bảo vệ đối với những nạn nhân bị áp bức. Ước gì sự thẳng thắn và liêm khiết đánh dấu mọi hành động của ngươi. Hãy là mái nhà cho người xa lạ, là liều thuốc cho kẻ đớn đau, là tháp đài vững chắc cho kẻ lẩn tránh. Hãy là mắt cho người mù và là ngọn đèn soi đường cho người lạc lối”.
Giáo lý Baha’i cũng đề cao tinh thần đạo đức hướng thiện và chân lý, mỗi tín đồ như những mầm sống có trách nhiệm bảo vệ hành tinh, bảo vệ trái đất và muôn vật, hòa quyện vào cùng thiên nhiên, ánh sáng để có cuộc đời thật ý nghĩa: “Hãy là vật trang sức cho bộ mặt chân lý, là mão miện trên vầng trán công nghĩa, là trụ cột của ngôi đền chính trực, là sinh khí cho cơ thể loài người, là ngọn cờ của đạo binh công lý, là tinh tú nơi chân trời đức hạnh, là giọt sương cho mảnh đất tâm hồn con người, là chiếc thuyền trên đại dương kiến thức, là mặt trời trên thiên đàng từ ái, là châu ngọc trên vương miện khôn ngoan, là ánh sáng rực rỡ trên bầu trời của thế hệ mình, là trái trên cây khiêm tốn”. Những lời khuyên trong giáo lý Baha’i chính là khuôn mẫu của đời sống tín đồ và là cơ sở cho tình đoàn kết, gắn bó, hòa hợp tôn giáo, hòa hợp nhân loại, đó mới là mục tiêu, là chân lý vĩnh cửu mỗi tín đồ tự tìm cho mình: “Con người phải tự mình đi tìm chân lý... để nhờ ánh sáng chân lý mà xua tan những mây mờ và bóng tối. Chân lý là một: Chân lý không chấp nhận đa nguyên hay sự chia rẽ”.
Giáo lý Baha’i cũng dạy con người đời sống vĩnh cửu của con người thuộc về linh hồn, linh hồn cần được nuôi dưỡng hằng ngày để luôn được phát triển tốt. Nghĩa vụ của người tín đồ là cần phải cầu nguyện và đọc Thánh Thư để vun bồi thiện tính và phúc tính cho linh hồn: “Mỗi sáng và chiều hãy đọc thuộc lòng các Thánh ngôn của Thượng Đế. Ai không đọc Thánh ngôn là không trung thành với Giao ước của Thượng Đế và trong ngày nay, ai rời xa điều này là đã hiển nhiên rời xa Thượng Đế tự bao giờ”.
4. Kết luận
Là một tôn giáo được thành lập với mục đích thực hiện việc cải biến đời sống cá nhân, làm hồi sinh xã hội Ba Tư, nhờ đó dẫn đến sự thống nhất, đoàn kết, liên tôn và hòa hợp giữa các tôn giáo, bảo vệ, tôn trọng hòa bình thế giới. Vì một xã hội tiến bộ, một thế giới đại đồng, chan hoà ánh sáng và tình yêu thương giữa con người, nhân loại không còn phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, sắc tộc và quốc gia. Giá trị đạo đức trong tôn giáo Baha’i hướng tín đồ đến một đời sống an bình, bao dung cho một thế giới phát triển bền vững trên nguyên tắc tôn trọng sự bình đẳng, gắn kết và nhân văn. Giáo lý Baha’i cũng tạo ra cho tín đồ một lối sống học tập không ngừng nghỉ, một cộng đồng tinh thần hợp nhất hướng đến chân lý của khoa học, loại bỏ mê tín và những thành kiến, thúc đẩy quá trình hình thành niềm tin chính tín. Niềm tin tôn giáo luôn đồng hành với khoa học và tạo dựng nền tảng cho một xã hội văn minh, tiến bộ. Giáo lý Baha’i cũng hướng đến tín đồ một cuộc sống bình đẳng về mọi mặt, cơ hội, những quyền và đặc ân giữa nam và nữ, chủ trương sự giáo dục phổ cập, loại bỏ sự chênh lệch giàu nghèo, nâng cao tinh thần phụng sự, đồng thời mang lại lối sống hiện đại cho tín đồ trước những biến đổi và thích nghi của thời đại mới.
* Học viện Hành chính và Quản trị công
Tài liệu tham khảo
1. Hội đồng Tinh thần Baha’i Việt Nam (2012), Tôn giáo Baha’i giới thiệu tổng quát, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
2. Hội đồng Tinh thần Baha’i Việt Nam (2020), Ánh bình minh (Day Break): Những câu hỏi được giải đáp trích từ nhiều nguồn sách Baha’i, Tài liệu lưu hành nội bộ. www.bahai.org.vn.
3. Esselmont, E. J. (1987). Baha’u’llah và kỉ nguyên mới [Baha’u’llah and the New Era], Ho Chi Minh, Vietnam: Hội đồng tinh thần địa phương chi đạo Baha’i Sài Gòn dịch và ấn tống.
4. Hội đồng Tinh thần Baha’i Việt Nam (2020), Ẩn ngôn của Đức Baha’u’llah (Hidden words - Song ngữ Anh - Việt), Tài liệu lưu hành nội bộ. www.bahai.org.vn.
5. Đức Baha’ullah (2021), Các kinh bản được mặc khải sau Thánh Kinh thiêng liêng nhất, Hội đồng tinh thần Baha’i Việt Nam ấn tống.
6. Tòa công lí quốc tế (Biên soạn, 2020), Châu ngọc của sự khôn ngoan (Pearls of Wisdom): Tầm quan trọng của việc khơi sâu tri thức và sự thấu triệt của chúng ta về chính đạo, Hội đồng Tinh thần Baha’i Việt Nam.
7. Hội đồng Tinh thần Baha’i Việt Nam (2020), Chúc thư và giao ước của Đức Abdul Baha, Tài liệu lưu hành nội bộ, www.bahai.org.vn.
8. Hội đồng Tinh thần Baha’i Việt Nam (2020), Giáo lí của Đức Baha’u’llah về thực thể tâm linh - Trích tuyển từ Thánh Thư của Đức Baha’u’llah, Đức Bab, Đức Abdul Baha, Đức Shohi Effendi, Tài liệu lưu hành nội bộ, www.bahai.org.vn.
9. Hội đồng Tinh thần Baha’i Việt Nam (2020), Kinh cầu nguyện Baha’i, Tài liệu lưu hành nội bộ, www.bahai.org.vn.
10. Hội đồng Tinh thần Baha’i Việt Nam (2020), Thánh Kinh thiêng liêng nhất Kitab-I-Aqdas, Tài liệu lưu hành nội bộ, www.bahai.org.vn.
11. Hội đồng Tinh thần Baha’i Việt Nam (2020), Kinh xác tín Kitab-I-Iqan, Tài liệu lưu hành nội bộ, www.bahai.org.vn.