Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Hệ thống pháp luật và các thiết chế bảo đảm, thúc đẩy quyền của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam

ThS. Trần Hồng Quỳnh - Hoàng Phương Liên - 13:06, 22/02/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Quyền của người dân tộc thiểu số được các văn kiện pháp lý quốc tế ghi nhận và xếp trong nhóm các quyền dân sự - chính trị; là quyền rất căn bản mà các nhóm dân tộc thiểu số ở tất cả các quốc gia đều có quyền được hưởng. Bài viết tập trung phân tích Việt Nam quy định như thế nào trong hệ thống pháp luật quốc gia để thể hiện ba cấp độ nghĩa vụ, gồm: tôn trọng, bảo vệ và thực hiện đầy đủ quyền của người dân tộc thiểu số.

Từ khóa: Hệ thống pháp luật; Quyền của con người; Người dân tộc thiểu số; Việt Nam.


1. Đặt vấn đề

Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người của Liên Hợp quốc (UDHR) năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) năm 1966 là hai văn kiện pháp lý quốc tế nền tảng, ghi nhận các quyền pháp lý cơ bản của con người về dân sự, chính trị, mà quyền của người dân tộc thiểu số (DTTS) được coi là quyền cơ bản trong nhóm các quyền dân sự, chính trị đó.

Luật Nhân quyền quốc tế quy định, nhà nước có nghĩa vụ hàng đầu trong bảo đảm quyền con người. Nhà nước có nghĩa vụ phê chuẩn hoặc tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người, thực hành dân chủ và áp dụng nguyên tắc pháp quyền trong quản lý xã hội nhằm làm cho mọi người được hưởng các quyền và tự do cơ bản mà không có sự phân biệt đối xử về chủng tộc, dân tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo.

Đảm bảo đầy đủ quyền con người đòi hỏi Nhà nước phải thực hiện 3 cấp độ nghĩa vụ: tôn trọng, bảo vệ và thực hiện. Các nghĩa vụ này có quan hệ gắn bó, bổ sung cho nhau, được thừa nhận rộng rãi ở nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế.

Ra đời từ năm 1965, Công ước quốc tế xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD) lên án nạn phân biệt chủng tộc và xác lập nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết và không trì hoãn các chính sách nhằm loại trừ các hình thức phân biệt dựa trên chủng tộc, màu da, dòng dõi, dân tộc hoặc gốc người DTTS.

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, với 53 DTTS và đã sớm tham gia Công ước CERD từ năm 1982. Việt Nam đã 5 lần bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia thực thi Công ước vào các năm 1983, 1993, 2000, 2012, 2023. Một trong các nội dung của Báo cáo quốc gia là phải thể hiện được các kết quả trong xây dựng hệ thống pháp luật và các thiết chế bảo đảm, thúc đẩy quyền của người DTTS tại Việt Nam.

Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu tiên hỗ trợ phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số
Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu tiên hỗ trợ phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số

2. Kết quả nghiên cứu

Thứ nhất, về nghĩa vụ tôn trọng

Nghĩa vụ này đòi hỏi nhà nước phải có các hành động: Ghi nhận các quyền tự do cơ bản của con người trong hệ thống pháp luật quốc gia; Xây dựng những chuẩn mực cụ thể về quyền con người trên các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội; Thường xuyên chú trọng nâng cao nhận thức cho công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp và tầng lớp nhân dân.

Thực hiện nghĩa vụ tôn trọng, Nhà nước Việt Nam đã dành riêng Chương II với 36 điều trên tổng số 120 điều trong Hiến pháp 2013 - văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của quốc gia để quy định trực tiếp, rõ ràng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bao gồm quyền của người DTTS tại Việt Nam.

Từ năm 2013 đến nay, hệ thống pháp luật Việt Nam liên tục được xây dựng và hoàn thiện tương đối đồng bộ, đáp ứng về cơ bản quyền con người, trong đó có việc bảo đảm các quyền và lợi ích chính đáng của đồng bào DTTS. Trong 10 năm qua, Quốc hội Việt Nam đã ban hành 125 luật, trong đó có 352 điều khoản luật trực tiếp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các DTTS. “Đến nay, có 188 chính sách thực hiện tại vùng DTTS và miền núi (DTTS&MN) đang còn hiệu lực do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành, trong đó có 136 chính sách dân tộc (Chính sách dân tộc bao gồm: (1) Các chương trình, chính sách dành riêng cho đồng bào DTTS, vùng DTTS&MN: (2) Các chương trình, chính sách áp dụng chung cho cả nước nhưng có nội dung ưu tiên hỗ trợ đồng bào DTTS, vùng DTTS&MN)” .

Bên cạnh đó, tiếp tục thực hiện 2 Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2019/QH14 phê duyệt Đề án tổng thể; Quốc hội khóa XV ban hành Nghị quyết số 120/2020/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1719/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn 1 từ 2021 - 2025, với 10 dự án thành phần (Chương trình MTQG DTTS). Chương được xây dựng trên cơ sở rà soát, sửa đổi, bổ sung, tích hợp nhiều nội dung chương trình, dự án, chính sách dân tộc, đánh dấu cột mốc lịch sử lần đầu tiên, Việt Nam có một Chương trình MTQG DTTS.

Về tổng thể, hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến vùng đồng bào DTTS&MN hiện nay đã tương đối đầy đủ, điều chỉnh toàn diện các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, tạo khung pháp lý đảm bảo điều kiện thuận lợi để ban hành, tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc, tạo khuôn khổ pháp lý cho việc tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ quyền của người DTTS; xác lập cơ sở pháp lý về các quyền của chủ thể hưởng quyền.

Thứ hai, ở nghĩa vụ bảo vệ

Điều 16. Hiến pháp 2013 quy định: “1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. 2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Điều 20. “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. 2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định”. Điều 21. “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn. 2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác”. Điều 30. “1. Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật. 3. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”.

Những quy định trên nhằm kiềm chế, ngăn chặn sự vi phạm quyền con người từ phía các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và cá nhân; ngăn chặn tình trạng phân biệt đối xử, hoặc hình thành các thế lực đe doạ quyền con người trên các lĩnh vực; xử lý có hiệu quả những vi phạm về quyền con người; ngăn chặn, điều tra, trừng trị và phục hồi các quyền đã bị vi phạm hoặc bồi thường bất cứ khi nào có thể…

Thứ ba, nghĩa vụ thực hiện

Bằng sự tích cực và chủ động, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng khung thể chế về tổ chức, bộ máy, con người nhằm làm cho luật pháp và các chuẩn mực về quyền con người nói chung, quyền của người DTTS nói riêng được hiện thực hóa.

Trong tổ chức bộ máy nhà nước, Bộ Dân tộc và Tôn giáo là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực: Công tác dân tộc; tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ theo quy định của pháp luật.

Bộ Dân tộc và Tôn giáo có nhiều nhiệm vụ, quyền hạn như: Trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Chính phủ và các nghị quyết, dự án, đề án theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để trình Quốc hội ban hành các chính sách dân tộc, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ. Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, trung hạn, hàng năm và các dự án, công trình quan trọng quốc gia thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ. Trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định, chỉ thị, chương trình mục tiêu quốc gia và các văn bản khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ hoặc theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Ban hành thông tư, quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ… (Nghị định số 41/2025/NĐ-CP ngày 26/02/2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Bộ Dân tộc và Tôn giáo).

Ở địa phương, từ 01/7/2025, thực hiện mô hình chính quyền hai cấp, Sở Dân tộc và Tôn giáo là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh; tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo và theo phân cấp hoặc uỷ quyền của UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh theo quy định của pháp luật. Phòng Văn hóa - Xã hội tham mưu, giúp UBND cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực, trong đó lĩnh vực nội vụ có công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo (Thông tư 02/2025/TT-BDTTG ngày 24/6/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo hướng dẫn chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Dân tộc và Tôn giáo thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo của phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương).

Liên quan đến nghĩa vụ thực hiện, Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm tạo môi trường thuận lợi, hỗ trợ cho việc tiếp cận quyền con người của nhóm người DTTS trong quá trình phát triển. Về vấn đề này, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 120/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình MTQG DTTS chính là một bước cụ thể hóa nội dung đã được quy định tại Khoản 5, Điều 70, Hiến pháp năm 2013: “Quốc hội quyết định chính sách dân tộc của Nhà nước”. Căn cứ Nghị quyết của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1719/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình MTQG DTTS. Hai văn bản này thể hiện quyết tâm rất cao của Quốc hội, Chính phủ trong việc tích hợp nhiều chính sách, đề án, dự án vào một Chương trình, nhằm tránh tản mạn, hạn chế chồng chéo về nội dung, địa bàn thực hiện. Cơ chế chính sách có nhiều đổi mới theo hướng đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên tập trung đầu tư, hỗ trợ các địa bàn khó khăn nhất, giải quyết những vấn đề bức xúc, cấp thiết nhất, chú trọng phát triển các DTTS còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù. Nhà nước ưu tiên nguồn lực thực hiện các chính sách dân tộc, trong đó nguồn ngân sách nhà nước giữ vai trò quyết định, được bố trí trung hạn và hàng năm, cơ bản đáp ứng nhu cầu của chính sách, nhất là các chương trình MTQG.

3. Kết luận

Quyền của người DTTS là một trong những quyền cơ bản của con người, được các văn kiện pháp lý quốc tế ghi nhận, là quyền rất căn bản mà các nhóm DTTS ở tất cả các quốc gia đều có quyền được hưởng. Nhà nước ta đã xây dựng hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm đồng bào DTTS được hưởng quyền “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”, đồng thời được hưởng đầy đủ các quyền dân sự - chính trị đã được pháp luật quy định. Do những yếu tố đặc thù về trình độ phát triển và đặc điểm kinh tế - văn hóa, pháp luật còn quy định thêm những điều khoản cụ thể hoặc chính sách có liên quan nhằm bảo đảm và thúc đẩy thực thi quyền cho đồng bào DTTS. Hệ thống pháp luật quy định quyền của các DTTS đã thể hiện rõ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với các DTTS, đồng thời cũng là mục tiêu, động lực của công cuộc phát triển đất nước .

Tài liệu tham khảo

1. Hiến pháp 2013.

2. Báo cáo số 1533/BC-UBDT ngày 11/11/2020 kết quả rà soát chính sách, pháp luật liên quan đến vùng đồng bào DTTS&MN.

3. Nghị định số 41/2025/NĐ-CP ngày 26/02/2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Bộ Dân tộc và Tôn giáo.

4.Thông tư 02/2025/TT-BDTTG ngày 24/6/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo hướng dẫn chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Dân tộc và Tôn giáo thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo của phòng chuyên môn thuộc UBND xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.