Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Cấu trúc việc làm của lao động dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay - Những vấn đề đặt ra

ThS. Trần Hồng Quỳnh - 14:48, 04/05/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết phân tích thực trạng việc làm của lao động dân tộc thiểu số ở Việt Nam dựa trên các số liệu thống kê tin cậy. Kết quả cho thấy, mặc dù tỷ lệ lao động dân tộc thiểu số có việc làm tương đối cao, song chất lượng việc làm còn hạn chế, thể hiện qua trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp, tỷ lệ lao động giản đơn cao và sự phụ thuộc lớn vào khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao chất lượng việc làm, thúc đẩy phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Từ khóa: Dân tộc thiểu số; Việc làm; Cơ cấu lao động; Chất lượng lao động.

Lao động DTTS đang duy trì tỷ lệ tham gia việc làm cao, song chủ yếu tập trung ở khu vực sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản
Lao động DTTS đang duy trì tỷ lệ tham gia việc làm cao, song chủ yếu tập trung ở khu vực sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản

1. Đặt vấn đề

Việc làm là vấn đề thiết yếu của phần đông dân số, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số. Việc làm đem lại thu nhập và nhiều lợi ích khác như giảm nghèo, cân bằng cuộc sống, góp phần tạo dựng những chuyển đổi tích cực trong xã hội. Việc làm cũng là một trong những chỉ báo quan trọng phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội và mức độ hội nhập của các nhóm dân cư. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, việc làm còn gắn chặt với ổn định xã hội, giảm nghèo bền vững và bảo đảm công bằng trong phát triển. Nghiên cứu những đặc trưng việc làm của người dân tộc thiểu số có ý nghĩa quan trọng, góp phần phục vụ công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cho người dân tộc thiểu số.

2. Kết quả nghiên cứu

Cuối tháng 11/2025, Cục Thống kê (Bộ Tài chính) và Bộ Dân tộc và Tôn giáo công bố kết quả điều tra thu thập thông tin thực trạng kinh tế - xã hội 53 DTTS lần thứ III, năm 2024. Theo kết quả điều tra, bức tranh việc làm của đồng bào dân tộc thiểu số hiện lên một số vấn đề sau:

Thứ nhất, quy mô lao động dân tộc thiểu số lớn nhưng có sự phân hóa rõ nét. Tỷ lệ lao động dân tộc thiểu số từ 15 tuổi trở lên có việc làm đạt 68,7%, tương đương 7,2 triệu người. Đây là mức tương đối cao, phản ánh khả năng tham gia thị trường lao động của người dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa nam và nữ vẫn đáng kể, với tỷ lệ tương ứng là 72,9% và 64,2% cho thấy rào cản giới vẫn tồn tại, đặc biệt trong bối cảnh điều kiện kinh tế - xã hội và tập quán ở nhiều vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế cơ hội việc làm đối với phụ nữ.

Thứ hai, phần lớn lao động dân tộc thiểu số có việc làm thuộc nhóm 15-54 tuổi và cư trú chủ yếu ở khu vực nông thôn (87,1%). Điều này phản ánh đặc trưng lao động “tại chỗ”, gắn với không gian sinh kế truyền thống, đồng thời cho thấy mức độ dịch chuyển lao động và hội nhập vào thị trường lao động hiện đại còn hạn chế.

Thứ ba, trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp và đây là điểm nghẽn cốt lõi. Chỉ 14,9% lao động dân tộc thiểu số có việc làm đã qua đào tạo, trong khi tỷ lệ lao động không có chuyên môn kỹ thuật chiếm tới 85,1%. Khu vực nông thôn có tỷ lệ lao động không có chuyên môn kỹ thuật cao hơn khu vực thành thị (87,9% so với 69,8%) cho thấy khoảng cách phát triển vùng còn lớn. Sự khác biệt giữa các nhóm dân tộc thiểu số cũng cần được lưu ý. Trong số các dân tộc thiểu số có quy mô lớn trên 1 triệu người, có 3/6 dân tộc thiểu số có tỷ lệ lao động dân tộc thiểu số có việc làm không có chuyên môn kỹ thuật thấp hơn mức chung của 53 dân tộc thiểu số (tức là thấp hơn 85,1%), cụ thể: Tày (71,8%), Nùng (82,7%), Mường (83,6%) phản ánh điều kiện tiếp cận giáo dục và cơ hội phát triển tốt hơn so với nhiều nhóm dân tộc thiểu số khác.

Thứ tư, cơ cấu lao động dân tộc thiểu số theo khu vực kinh tế cho thấy sự phụ thuộc lớn vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, với tỷ trọng 63,5%, cao hơn đáng kể so với mặt bằng chung của cả nước. Có sự khác biệt lớn về cơ cấu lao động có việc làm theo khu vực kinh tế giữa các dân tộc thiểu số. Trong 6 dân tộc thiểu số có quy mô lớn trên 1 triệu người, dân tộc Khmer có tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực nông, lâm, thủy sản thấp nhất (36,8%), trong khi đó, tỷ trọng này ở dân tộc Mông là cao nhất (88,5%), cao hơn mức chung của các dân tộc khác (tức là cao hơn 67,6%) và cao hơn mức chung của 53 dân tộc thiểu số (tức là cao hơn 62,9%) phản ánh mức độ khác biệt lớn về sinh kế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các nhóm.

Thứ năm, lao động giản đơn chiếm tỷ trọng lớn, nhưng có xu hướng giảm. Nhóm lao động giản đơn chiếm 50,6% tổng số lao động dân tộc thiểu số có việc làm, tập trung chủ yếu trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản (84,6%). Mặc dù tỷ trọng này đã giảm 18% so với năm 2019, song vẫn đang ở mức cao cho thấy quá trình chuyển dịch sang các công việc có kỹ năng cao hơn diễn ra chậm. Đáng chú ý, một số dân tộc có tỷ lệ lao động giản đơn rất cao, như: Mông (62,5%), Thái (61,5%), vượt xa mức bình quân chung. Trong 9 nhóm nghề, người dân tộc thiểu số làm lãnh đạo trong các ngành, các cấp và các đơn vị chiếm tỷ trọng thấp nhất, chỉ 0,7%. Đa phần trong số đó là nam giới, với tỷ lệ 61,8%. Nhóm lao động làm công việc chuyên môn kỹ thuật bậc cao và bậc trung chỉ chiếm 4,4% tổng số lao động dân tộc thiểu số có việc làm, dù đã tăng 1,1% so với 5 năm trước. Trong số các dân tộc thiểu số có quy mô trên 1 triệu người, có 2/6 dân tộc thiểu số có tỷ trọng lao động có việc làm là lãnh đạo trong các ngành, các cấp và các đơn vị cao hơn mức chung của 53 dân tộc thiểu số là Tày (1,5%), Thái (0,9%). Trong khi đó, có 62,5% người Mông và 61,5% người Thái có việc làm thuộc nhóm lao động giản đơn, cao hơn nhiều so với mức chung của 53 dân tộc thiểu số (tức là cao hơn 50,6%). Điều này cho thấy cơ hội thăng tiến nghề nghiệp của lao động dân tộc thiểu số còn hạn chế.

Thứ sáu, vị thế việc làm thấp và tính phi chính thức cao. Khoảng 2/3 lao động dân tộc thiểu số làm việc dưới hình thức tự làm hoặc lao động gia đình, trong đó 28,1% là lao động gia đình không được trả công. Tỷ lệ người dân tộc thiểu số làm chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh chỉ chiếm 0,8%, phản ánh hạn chế trong tích lũy vốn và năng lực khởi nghiệp. Có sự khác biệt về vị thế việc làm theo giới tính. Tỷ lệ nam dân tộc thiểu số trong nhóm chủ cơ sở, làm công hưởng lương và tự làm cao hơn so với nữ dân tộc thiểu số. Ngược lại, tỷ lệ nữ dân tộc thiểu số tham gia nhóm lao động gia đình - nhóm yếu thế là 38,9%, cao hơn 2,1 lần so với lao động nam giới thuộc nhóm này. Vị thế việc làm của lao động dân tộc thiểu số ở khu vực thành thị và nông thôn cũng có sự khác biệt theo hướng lao động ở khu vực thành thị có vị thế việc làm cao hơn ở các nhóm công việc ổn định hơn. 1,7% lao động ở khu vực thành thị làm việc với vị thế chủ cơ sở trong khi con số này ở khu vực nông thôn chỉ là 0,6%. 58,8% lao động khu vực thành thị làm việc với tư cách làm công hưởng lương thì ở khu vực nông thôn chỉ là 32,7%. Hơn 93,2% người có việc làm là lao động gia đình hiện đang cư trú ở khu vực nông thôn.

3. Đề xuất một số giải pháp

Từ những phân tích trên, có thể thấy các chính sách về việc làm cho người dân tộc thiểu số cần được thiết kế theo hướng can thiệp vào các yếu tố mang tính cấu trúc, thay vì chỉ giải quyết vấn đề bề nổi của thị trường lao động.

Trước hết, cần đột phá phát triển giáo dục nghề nghiệp gắn với đặc thù vùng dân tộc thiểu số. Với tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 14,9% thì việc nâng cao kỹ năng phải chuyển sang mô hình đào tạo linh hoạt, phù hợp với điều kiện sinh kế và trình độ ban đầu của người dân tộc thiểu số. Các chương trình đào tạo nghề cần được thiết kế theo hướng ngắn hạn, thực hành là chính, gắn trực tiếp với nhu cầu thị trường tại chỗ như: nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông sản, du lịch cộng đồng, nghề thủ công truyền thống có giá trị gia tăng... Đồng thời, tăng cường cơ chế đặt hàng đào tạo từ doanh nghiệp, bảo đảm đầu ra việc làm sau đào tạo, tránh tình trạng đào tạo xong nhưng không sử dụng được.

Thứ hai, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm phụ thuộc vào nông, lâm, thủy sản. Đây là yêu cầu mang tính chiến lược, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa phát triển hạ tầng, thu hút đầu tư và quy hoạch không gian kinh tế vùng dân tộc thiểu số. Nhà nước cần ưu tiên phát triển các cụm sản xuất - dịch vụ quy mô nhỏ và vừa tại địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện để lao động dân tộc thiểu số tiếp cận các ngành nghề phi nông nghiệp ngay tại địa phương. Hỗ trợ kết nối thị trường, phát triển logistics và thương mại điện tử nông thôn, qua đó từng bước đưa sản phẩm và lao động dân tộc thiểu số tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Thứ ba, đối với khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản, nơi đang giữ chân phần lớn lao động dân tộc thiểu số cần chuyển từ tư duy duy trì sinh kế sang nâng cao giá trị và tính bền vững của sinh kế. Điều này đồng nghĩa với việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, tổ chức lại sản xuất theo mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác và liên kết chuỗi giữa người sản xuất với doanh nghiệp. Khi nông nghiệp được nâng cấp, ngay cả những lao động chưa thể chuyển dịch sang khu vực khác vẫn có thể cải thiện thu nhập và giảm rủi ro sinh kế.

Thứ tư, cải thiện vị thế việc làm và thúc đẩy tính chính thức của thị trường lao động dân tộc thiểu số. Chính sách cần tập trung hỗ trợ đăng ký kinh doanh, tiếp cận tín dụng vi mô, đào tạo kỹ năng quản trị cho hộ gia đình và cá nhân sản xuất nhỏ. Có cơ chế khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ do người dân tộc thiểu số làm chủ. Khi người lao động chuyển từ làm thuê cho chính mình sang làm chủ hoạt động kinh tế, vị thế và khả năng tích lũy của họ sẽ được cải thiện đáng kể.

Thứ năm, thu hẹp khoảng cách giới trong tiếp cận việc làm và đào tạo nghề. Sự chênh lệch giữa nam và nữ dân tộc thiểu số không chỉ là vấn đề lao động mà còn liên quan đến các yếu tố văn hóa, xã hội và phân công lao động trong gia đình. Do đó, các chương trình hỗ trợ cần ưu tiên phụ nữ dân tộc thiểu số thông qua đào tạo nghề linh hoạt, hỗ trợ sinh kế gắn với điều kiện chăm sóc gia đình, tăng cường tiếp cận tín dụng và các nguồn lực sản xuất.

Cuối cùng, về dài hạn, cần đổi mới cách tiếp cận chính sách theo hướng tích hợp và dựa trên đặc thù tộc người và vùng miền. Sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm dân tộc thiểu số trong cơ cấu việc làm cho thấy không thể áp dụng một mô hình chính sách chung cho tất cả. Thay vào đó, cần phân loại nhóm đối tượng theo điều kiện phát triển, mức độ hội nhập thị trường và đặc điểm sinh kế, từ đó thiết kế các gói chính sách phù hợp, có trọng tâm, tránh dàn trải.

Mở rộng số lượng, nâng cao chất lượng việc làm cho lao động dân tộc thiểu số không thể là kết quả của một chính sách đơn lẻ mà đòi hỏi một chiến lược tổng thể, liên ngành và dài hạn, trong đó giáo dục nghề nghiệp, phát triển kinh tế vùng và cải cách thị trường lao động phải được triển khai đồng thời. Nếu không giải quyết được các nút thắt mang tính cấu trúc này, nghịch lý việc làm nhiều nhưng chất lượng thấp sẽ tiếp tục kéo dài, cản trở thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm và bền vững ở vùng dân tộc thiểu số.

4. Thảo luận

Những phân tích trên cho thấy một nghịch lý đáng chú ý là lao động dân tộc thiểu số có tỷ lệ việc làm cao, nhưng chất lượng việc làm thấp và thiếu bền vững, phản ánh những ràng buộc mang tính cấu trúc, tồn tại lâu dài trong không gian kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số.

Trước hết, tỷ lệ tham gia việc làm cao không đồng nghĩa với mức độ phát triển của thị trường lao động. Phần lớn lao động dân tộc thiểu số có việc làm mang tính tự cung, tự cấp gắn với kinh tế hộ gia đình, đặc biệt trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Khi 63,5% lao động tập trung trong khu vực này và khoảng 2/3 làm việc dưới hình thức tự làm hoặc lao động gia đình thì bản chất của việc làm không phải là kết quả của quá trình phân công lao động hiện đại, mà là sự duy trì sinh kế truyền thống trong điều kiện thiếu lựa chọn thay thế. Nói cách khác, việc làm ở đây mang tính tồn tại nhiều hơn là phát triển.

Điểm nghẽn thứ hai là trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp, thể hiện qua tỷ lệ 14,9% lao động dân tộc thiểu số có việc làm đã qua đào tạo. Con số này phản ánh phần lớn lực lượng lao động dân tộc thiểu số chưa được tích hợp vào hệ thống sản xuất hiện đại. Khi thiếu kỹ năng nghề, người lao động dân tộc thiểu số gần như chỉ làm các công việc giản đơn, giá trị gia tăng thấp, ít cơ hội cải thiện thu nhập và dễ bị tổn thương trước biến động kinh tế. Khoảng cách giữa nông thôn và thành thị (87,9% so với 69,8% lao động không có chuyên môn kỹ thuật) càng cho thấy sự bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục nghề nghiệp và cơ hội nâng cao kỹ năng giữa các khu vực.

Giai đoạn 2021-2025, mặc dù các chính sách của Chính phủ về thu hút đầu tư và phát triển công nghiệp, xây dựng, dịch vụ đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân tộc thiểu số, góp phần vào sự chuyển dịch tích cực giữa các khu vực kinh tế. Tuy nhiên, cơ cấu ngành nghề của lao động dân tộc thiểu số vẫn bộc lộ sự lệch pha rõ rệt so với xu hướng chuyển dịch chung của nền kinh tế. Trong khi nền kinh tế quốc gia đang dần giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp, thủy sản, tăng nhanh công nghiệp và dịch vụ, thương mại thì lao động dân tộc thiểu số vẫn chủ yếu làm việc trong khu vực nông, lâm, thủy sản. Sự phụ thuộc quá lớn vào một khu vực kinh tế có năng suất thấp không chỉ làm hạn chế thu nhập, mà còn khiến sinh kế của người dân tộc thiểu số dễ bị tác động bởi các yếu tố rủi ro như biến đổi khí hậu, dịch bệnh hay biến động thị trường nông sản. Sự khác biệt giữa các tộc người (như tỷ trọng 88,5% ở dân tộc Mông so với 36,8% ở dân tộc Khmer làm việc trong khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản) còn cho thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra không đồng đều, phụ thuộc mạnh vào điều kiện địa lý, hạ tầng và mức độ kết nối thị trường.

Ở góc độ vị thế việc làm, bức tranh càng trở nên rõ nét hơn khi lao động giản đơn chiếm tới 50,6%, trong khi tỷ lệ lao động giữ vị trí lãnh đạo hoặc quản lý là rất thấp. Điều này phản ánh sự hạn chế không chỉ về kỹ năng nghề mà còn về năng lực tham gia vào các tầng nấc cao hơn của chuỗi giá trị lao động. Khi phần lớn lao động chỉ tham gia vào các khâu có giá trị thấp, họ gần như không có tiếng nói trong quá trình phân phối lợi ích kinh tế. Đồng thời, tỷ lệ lao động gia đình không được trả công (28,1%) cho thấy một thực tế đáng lưu ý: một bộ phận lớn lao động dân tộc thiểu số đang “bị vô hình hóa” trong các thống kê kinh tế chính thức, dù họ vẫn đóng góp trực tiếp vào hoạt động sản xuất.

Một khía cạnh khác cần được nhấn mạnh là tính bền vững của việc làm. Với tỷ lệ rất thấp người dân tộc thiểu số làm chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh (0,8%), có thể thấy khả năng tích lũy vốn, mở rộng sản xuất và tham gia kinh tế thị trường của người dân tộc thiểu số còn hạn chế. Điều này dẫn đến vòng luẩn quẩn: thiếu vốn - thiếu cơ hội - tiếp tục duy trì việc làm giản đơn - khó tích lũy. Trong bối cảnh đó, việc làm của lao động dân tộc thiểu số không chỉ có thu nhập thấp mà còn thiếu tính ổn định, dễ bị thay thế và khó thích ứng với các cú sốc kinh tế.

Từ những phân tích trên, có thể đặt ra một câu hỏi mang tính phản biện: liệu việc duy trì tỷ lệ việc làm cao có thực sự là một chỉ báo tích cực nếu phần lớn việc làm đó không tạo ra giá trị gia tăng và không đảm bảo sinh kế bền vững? Câu trả lời rõ ràng cần được nhìn nhận một cách thận trọng. Trong trường hợp của lao động dân tộc thiểu số, thách thức không chỉ ở tạo thêm việc làm mà còn ở nâng cao chất lượng và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng hiện đại và bền vững hơn.

5. Kết luận

Nghiên cứu cho thấy, lao động dân tộc thiểu số ở Việt Nam đang duy trì tỷ lệ tham gia việc làm cao, song chủ yếu tập trung ở khu vực có năng suất thấp, trình độ kỹ năng hạn chế và vị thế việc làm chưa ô ̉n định, phản ánh những vấn đề mang tính cấu trúc trong giáo dục nghề nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển thị trường lao động vùng dân tộc thiểu số. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cần nâng cao chất lượng, tính chính thức và khả năng thích ứng của lao động dân tộc thiểu số trong bối cảnh phát triển mới của đất nước. Giải quyết yêu cầu này đòi hỏi cách tiếp cận chính sách tổng thể, có trọng tâm, gắn với đặc thù tộc người và điều kiện vùng miền, góp phần thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng: “Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực” và “đẩy mạnh đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo động lực then chốt nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của nền kinh tế” .

Tài liệu tham khảo

Cục Thống kê - Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 DTTS năm 2024, Nxb. Kinh tế - Tài chính, 2025, Hà Nội.