Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Vai trò của tín ngưỡng Tứ phủ trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân tỉnh Lạng Sơn

TS. Nguyễn Châu Giang - 9 giờ trước

(DTTG) - Tóm tắt: Trong dòng chảy văn hóa của vùng biên viễn phía Bắc, tín ngưỡng Tứ phủ tại Lạng Sơn đóng vai trò là một trong những cột trụ tâm linh quan trọng và chi phối sâu sắc đến cấu trúc xã hội, đời sống tinh thần của cộng đồng cư dân đa dân tộc. Vai trò của tín ngưỡng Tứ phủ tại Lạng Sơn mang những đặc thù riêng biệt, nơi niềm tin tâm linh hòa quyện với ý thức bảo vệ biên thùy và tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc sinh sống trên địa bàn. Bài viết tập trung phân tích vai trò của tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ đối với đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng cư dân tại Lạng Sơn, làm rõ cách thức tín ngưỡng Tứ phủ tại đây không chỉ bảo tồn các giá trị cốt lõi của đạo Mẫu Việt Nam mà còn tiếp biến các yếu tố văn hóa tộc người để tạo nên một diện mạo tâm linh đặc thù, từ đó góp phần quan trọng vào việc cố kết cộng đồng, tộc người và phát triển các loại hình du lịch tâm linh ở Lạng Sơn.

Từ khóa: Tín ngưỡng Tứ phủ; Lạng Sơn; Thờ Mẫu; Hầu đồng; Tiếp biến văn hóa; Đời sống tinh thần.

Hầu đồng - một nghi thức trong tín ngưỡng thờ Tứ phủ
Hầu đồng - một nghi thức trong tín ngưỡng thờ Tứ phủ

1. Hệ thống điện thần và sự bản địa hóa sắc nét

Lạng Sơn có sự hiện diện dày đặc các di tích thờ Mẫu Liễu Hạnh gắn với tín ngưỡng Tứ phủ, là điểm đến quan trọng trong các cuộc hành hương về với Mẫu. Di tích thờ Tứ phủ ở Lạng Sơn hiện nay bao gồm di tích cũ xây dựng trước năm 1945 và di tích mới chủ yếu xây dựng từ sau năm 2005 trở lại đây. Điểm chung của các nhóm và cụm di tích thờ Tứ phủ ở Lạng Sơn là phần lớn đều nằm trên trục đường quốc lộ 1A, gắn với vị trí các ga xe lửa như: Bắc Lệ, Đồng Mỏ, Đồng Đăng; hoặc ở các trung tâm buôn bán đông dân cư như: Chi Lăng, Lạng Sơn, Thất Khê. Đây là những tụ điểm tập trung đông người Kinh làm nghề kinh doanh buôn bán. Như vậy, sự xuất hiện các ngôi đền Tứ phủ ở Lạng Sơn có thể là gắn với sự có mặt của người Kinh làm nghề buôn bán ở đây từ những thời điểm khác nhau trong lịch sử. Điều này có liên quan đến đặc điểm Lạng Sơn là một tỉnh miền núi có con đường huyết mạch thông thương biên giới, đặc biệt là từ sau khi có tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn. Tương truyền, tiền thân của đền Bắc Lệ là ngôi miếu thờ Mẫu Thượng Ngàn, quá trình Tứ phủ hóa là vào khoảng đầu thế kỷ XX gắn với việc ra đời nhà ga Bắc Lệ. Các ngôi đền mới xuất hiện gần đây phần lớn cũng là do các bà đồng người Kinh làm nghề buôn bán nhỏ công đức xây dựng. Số đền thờ mới không nhiều, phần lớn là đền thờ Đức Thánh Trần và đền Mẫu.

Điểm nổi bật của các di tích thờ Tứ phủ ở Lạng Sơn đều được tôn tạo hoặc xây dựng mới trên cơ sở các ngôi miếu nhỏ của địa phương với những nguồn gốc khác nhau, như: thờ thần tự nhiên, thờ người có công, thờ Cô, thờ Thổ công và đình làng. Các ngôi đền thờ thần tự nhiên có nguồn gốc thờ thần sông Kỳ Cùng như đền Kỳ Cùng, đền Cửa Đông. Các ngôi đền khác như đền Cửa Tây (Ngũ Nhạc Linh từ), đền Cửa Bắc (Ngũ Nhạc từ) có nguồn gốc thờ thần núi, trong đó, đền Cửa Bắc cũng thờ cả thần sông Kỳ Cùng. Ngoài ra, ngôi đền Mẫu ở Đồng Đăng khởi thủy là thờ Mẫu Cửu Trùng có nguồn gốc từ tín ngưỡng thờ Trời.

Các ngôi đền thờ người có công, chiếm phần lớn trong số các đền thờ Tứ phủ ở Lạng Sơn, nhiều nhất là các ngôi đền thờ Đức Thánh Trần, có nguồn gốc từ ngôi miếu nhỏ hoặc đình làng. Cổ nhất trong dạng đền này là đền Công đồng Bắc Lệ gắn với sự tích Bà Chúa Thượng Ngàn La Bình Công chúa con Tản Viên Sơn Thánh, có công âm phù Lê Lợi giết giặc ngoại xâm. Tiếp đến là các đền Chầu Bát, Chầu Lục, Chầu Mười,… đều gắn với sự tích thờ người có công đánh giặc. Ngoài ra, còn có đền Vĩnh Trại thờ một vị tướng thời Lê Sơ có tên là Lê Công Chí, hoặc đền Cà Phê trong hậu cung thờ Mẫu bản địa có tên Đặng Thị Tươi là người có công với làng… Tất cả các di tích thuộc nhóm này đều phối thờ Mẫu Tứ phủ.

Các ngôi đền thờ Cô được lưu lại nguồn gốc linh thiêng qua truyền thuyết, hoặc qua tên gọi, như: Tương truyền đền Suối Ngang thờ một cô gái chết trẻ linh thiêng; Hoặc ngay tên gọi một số ngôi đền thờ Cô Chín Thượng Ngàn, miếu Cô Chín, đền Cô đều gợi đến nguồn gốc thờ các cô gái chết trẻ; Hoặc đền Cô ở Đồng Đăng có nguồn gốc từ miếu Cô, đền Cô Bơ có nguồn gốc là miếu Cô Bơ. Gần đây có đền Ba Nàng tương truyền thờ ba cô gái trẻ linh thiêng chết trong chiến tranh.

Các ngôi đền được tôn tạo từ các ngôi miếu thờ Thổ công và đình làng, như miếu Chúa Sơn Lâm, sau khi Tứ phủ hóa thì thành nơi thờ Chúa Thượng Ngàn. Ngoài ra, còn có trường hợp đền Mẫu ở Thất Khê lúc đầu ở rìa thị trấn, sau lụt lội được dân di dời sáp nhập vào ngôi đình nhỏ, biến thành đền Mẫu hiện nay. Vị Thành hoàng của ngôi đình này là Quý Minh Đại vương sau đó được thờ chung vào bát hương Công đồng, khi làm lễ vẫn được khấn là Thành hoàng Đại vương.

Nếu không gian thờ tự là xác thì sự giao thoa văn hóa giữa người Kinh và người Tày, Nùng chính là hồn của tín ngưỡng Tứ phủ tại Lạng Sơn. Tại Lạng Sơn, Tứ phủ đã trở thành tài sản chung, một thực thể văn hóa hòa quyện không thể tách rời. Sự giao thoa này thể hiện rõ nét nhất qua nghi lễ Hầu đồng. Trong các giá hầu các vị Thánh vùng cao như Chầu Bé Bắc Lệ, Chầu Lục, hay các vị Chúa Then, thấy rõ sự thăng hoa của văn hóa bản địa. Trang phục của các giá đồng này thường mô phỏng y phục truyền thống của phụ nữ Tày, Nùng với áo chàm, vòng kiềng bạc, xà tích và những họa tiết thổ cẩm đặc trưng. Thậm chí, lời văn trong các bản hát văn không chỉ thuần túy là thơ lục bát của người Kinh mà còn đan xen các điệu hát Then, tiếng đàn Tính và cả những câu hát bằng tiếng dân tộc địa phương. Điều này tạo nên một không gian âm nhạc vừa quen thuộc vừa lạ lẫm, có sức lôi cuốn mạnh mẽ đối với cả người dân địa phương lẫn khách thập phương. Hơn thế nữa, các vị Thánh trong hệ thống Tứ phủ tại Lạng Sơn thường được bản địa hóa qua các truyền thuyết địa phương. Mẫu Thượng Ngàn hay các Chầu Bà không chỉ là những thực thể siêu nhiên xa lạ mà được người dân Tày, Nùng coi như những người mẹ, người bà gần gũi, dạy dân cách làm rẫy, trồng lúa, chữa bệnh bằng lá rừng. Sự giao thoa này còn thể hiện ở việc các thầy Then, thầy Tào, những chủ thể văn hóa của người Tày, Nùng thường xuyên tham gia vào các nghi lễ Tứ phủ, tạo nên một sự cộng sinh tôn giáo độc đáo. Tín ngưỡng Mẫu lúc này đóng vai trò như một nhịp cầu kết nối các dân tộc, xóa nhòa ranh giới giữa miền xuôi và miền ngược, giữa văn hóa lúa nước và văn hóa nương rẫy.

2. Vai trò của tín ngưỡng Tứ phủ trong đời sống văn hóa tinh thần

Tín ngưỡng Tứ phủ tại Lạng Sơn không đơn thuần là một hệ thống thờ cúng mà đã trở thành mạch ngầm văn hóa, thẩm thấu sâu sắc vào đời sống của cư dân vùng biên viễn. Vai trò của tín ngưỡng Tứ phủ được thể hiện từ việc xoa dịu tâm hồn cá nhân đến việc định hình chuẩn mực đạo đức, thăng hoa nghệ thuật và cuối cùng là tạo nên một khối gắn kết cộng đồng bền chặt.

Điểm đầu tiên trong tâm thức của người dân xứ Lạng, tín ngưỡng Tứ phủ đóng vai trò là một lá chắn tinh thần vững chãi. Với địa thế vùng cao, biên giới, cuộc sống của người dân từ xưa gắn liền với sự khắc nghiệt của thiên nhiên và những biến động của hoạt động giao thương. Hình tượng Mẫu (Mẹ) và các vị Thánh trong hệ thống Tứ phủ hiện thân cho sự che chở và lòng bao dung vô bờ bến. Người dân đến với đền Bắc Lệ, đền Mẫu Đồng Đăng không chỉ để cầu tài lộc mà quan trọng hơn là để tìm cầu sự an yên trong tâm trí. Niềm tin vào sự bảo hộ của Mẫu giúp con người vượt qua nỗi sợ hãi trước những rủi ro của cuộc sống mưu sinh. Sự hiện diện của các vị Thánh như Quan Lớn Tuần Tranh hay Chầu Bé không chỉ là những thực thể siêu nhiên, mà là những vị phúc thần gần gũi, luôn lắng nghe và hộ trì cho “con đỏ” trong mọi hành trình từ rừng sâu đến cửa ải.

Vai trò quan trọng tiếp theo của tín ngưỡng này chính là khả năng giáo dục nhân sinh quan một cách tự nhiên. Hệ thống thần điện Tứ phủ là nơi hội tụ của những Anh hùng dân tộc, những người có công với dân với nước được thần thánh hóa. Khi thực hành tín ngưỡng, người dân Lạng Sơn được nhắc nhở về lịch sử hào hùng thông qua các điển tích về Quan Lớn, Ông Hoàng, Chầu Bà. Việc tôn vinh những nhân vật này chính là sự thực hành sống động truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”. Qua các lời hát văn kể về công trạng khai sơn phá thạch, đánh đuổi giặc ngoại xâm, tín ngưỡng đã khơi dậy lòng tự tôn dân tộc và ý thức trách nhiệm với cộng đồng. Đạo Mẫu dạy con người sống hướng thiện, biết hiếu thảo với cha mẹ và công bằng trong đối nhân xử thế, từ đó góp phần duy trì trật tự đạo đức xã hội.

Nghi lễ Hầu đồng chính là linh hồn của Tứ phủ, nơi vai trò của tín ngưỡng được thăng hoa thành một hình thái nghệ thuật tổng hợp độc đáo. Tại Lạng Sơn, Hầu đồng không chỉ là nghi thức mà còn là một không gian biểu diễn nghệ thuật dân gian 66 đặc sắc. Sự kết hợp giữa âm nhạc (hát văn), vũ đạo, phục trang và nghệ thuật sắp đặt đã tạo nên một bữa tiệc văn hóa đa giác quan. Tiếng đàn Tính của người Tày hòa quyện cùng nhịp trống phách của cung văn miền xuôi tạo nên những giai điệu đặc thù của vùng biên. Mỗi giá hầu là một vở diễn sân khấu tâm linh, nơi thanh đồng hóa thân vào các vị Thánh, tái hiện lại phong thái, tính cách và công trạng của họ. Sự thăng hoa này không chỉ mang lại niềm vui thẩm mỹ mà còn có tác dụng trị liệu tâm lý mạnh mẽ, giúp con người rũ bỏ những mệt mỏi, lo âu để hòa mình vào thế giới của thần tiên, từ đó tái tạo năng lượng sống và sức sáng tạo cho cá nhân.

Bên cạnh đó, tín ngưỡng Tứ phủ còn đóng vai trò là chất keo đặc biệt gắn kết các thành viên trong xã hội. Tại Lạng Sơn, nơi cư trú của nhiều dân tộc anh em như Kinh, Tày, Nùng, Dao, tín ngưỡng Tứ phủ đã vượt qua ranh giới tộc người để trở thành niềm tin chung. Các lễ hội như lễ hội đền Kỳ Cùng - Tả Phủ là dịp để mọi người, không phân biệt giàu nghèo, dân tộc, cùng quần tụ về bên Mẫu. Sự chung tay trong việc chuẩn bị lễ vật, tổ chức rước kiệu hay thực hiện các nghi lễ chung đã tạo nên một sợi dây liên kết cộng đồng bền chặt.

3. Tác động của tín ngưỡng Tứ phủ đến kinh tế - xã hội hiện đại

Trong bối cảnh đương đại, tín ngưỡng Tứ phủ tại Lạng Sơn không còn bó hẹp trong không gian tâm linh thuần túy mà đã chuyển mình thành một động lực quan trọng, tác động sâu sắc đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Với vị thế là thủ phủ của đạo Mẫu vùng biên viễn, Lạng Sơn đã khéo léo biến những giá trị di sản phi vật thể thành nguồn lực nội sinh, góp phần thay đổi diện mạo đời sống cư dân và thúc đẩy tiến trình hội nhập văn hóa - kinh tế.

Trước hết, tác động rõ nét nhất nằm ở sự bùng nổ của loại hình du lịch tâm linh. Lạng Sơn sở hữu một hệ thống đền đài dày đặc như đền Mẫu Đồng Đăng, đền Bắc Lệ, đền Kỳ Cùng - Tả Phủ, vốn là những thỏi nam châm thu hút hàng triệu lượt khách hành hương mỗi năm. Dòng người đổ về xứ Lạng, đặc biệt vào mùa lễ hội tháng Giêng, tháng Hai Âm lịch, đã tạo ra một thị trường tiêu thụ dịch vụ khổng lồ. Từ các dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận tải đến việc cung ứng đồ lễ, viết sớ, hay cho thuê trang phục Hầu đồng đều phát triển mạnh mẽ. Điều này không chỉ mang lại nguồn thu ngân sách đáng kể cho tỉnh mà còn trực tiếp tạo ra hàng nghìn việc làm cho người dân địa phương, từ lao động phổ thông đến những nghệ nhân làm đồ mã, thợ may thêu phục trang truyền thống. Tín ngưỡng Tứ phủ lúc này đóng vai trò như một nguồn tài nguyên bền vững, một loại hình kinh tế di sản mà nếu khai thác tốt sẽ không bao giờ cạn kiệt.

Thứ hai, tín ngưỡng Tứ phủ thúc đẩy sự phục hưng và phát triển của các làng nghề thủ công truyền thống. Việc thực hành nghi lễ hầu đồng đòi hỏi một hệ thống lễ vật và trang phục vô cùng tinh xảo. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các thanh đồng và du khách, các nghề truyền thống như đúc đồng, làm đồ mã, thêu ren và chế tác trang sức tại Lạng Sơn và các vùng lân cận đã có cơ hội hồi sinh. Những bộ trang phục của các giá Chầu, giá Cô với họa tiết thổ cẩm Tày, Nùng hay những món đồ trang sức bạc cầu kỳ không chỉ phục vụ nghi lễ mà còn trở thành những sản phẩm lưu niệm đặc trưng, góp phần quảng bá thương hiệu văn hóa địa phương ra cả nước và quốc tế, đồng thời, tạo ra một chuỗi cung ứng đặc thù, thúc đẩy sự sáng tạo và giữ gìn các kỹ nghệ dân gian đang có nguy cơ mai một.

Về mặt xã hội, tín ngưỡng Tứ phủ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập. Trong một thế giới phẳng, việc duy trì những nét riêng biệt của địa phương là vô cùng cấp thiết. Việc thực hành tín ngưỡng Tứ phủ với sự giao thoa văn hóa Kinh - Tày - Nùng tại Lạng Sơn đã trở thành một bộ nhận diện văn hóa mạnh mẽ, giúp thế hệ trẻ địa phương tự hào về nguồn cội, từ đó có ý thức bảo vệ di sản. Bên cạnh đó, các đền thờ Mẫu thường là nơi thực hiện các hoạt động thiện nguyện, cứu trợ xã hội. Các bản hội, cung văn, thanh đồng thông qua mạng lưới tâm linh thường xuyên tổ chức các chương trình xây nhà tình nghĩa, giúp đỡ trẻ em nghèo vùng cao, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và thắt chặt tinh thần tương thân tương ái trong cộng đồng.

Tuy nhiên, tác động của tín ngưỡng Tứ phủ cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho công tác quản lý xã hội. Sự phát triển của du lịch tâm linh đôi khi dẫn đến hiện tượng thương mại hóa quá mức, làm biến tướng các nghi lễ thiêng liêng. Tình trạng mê tín dị đoan, đốt đồ mã quá nhiều gây ô nhiễm môi trường và lãng phí kinh tế, hay việc tranh chấp không gian thờ tự là những mặt trái cần được nhìn nhận thẳng thắn. Điều này đòi hỏi các cơ quan quản lý tại Lạng Sơn phải có những chiến lược cân bằng giữa việc khai thác giá trị kinh tế và bảo tồn tính nguyên bản của di sản. Việc chuẩn hóa các quy trình tổ chức lễ hội và giáo dục ý thức cho người thực hành tín ngưỡng là chìa khóa để Tứ phủ thực sự trở thành động lực phát triển một cách văn minh.

Sau cùng, tín ngưỡng Tứ phủ tại Lạng Sơn còn đóng vai trò là sức mạnh mềm trong việc ngoại giao văn hóa và bảo vệ biên cương. Những ngôi đền lộng lẫy nơi cửa ải không chỉ là điểm đến tâm linh mà còn là những cột mốc văn hóa khẳng định chủ quyền và sự hiện diện bền vững của cộng đồng người Việt. Khi du khách quốc tế đến với Lạng Sơn không chỉ thấy một vùng kinh tế cửa khẩu sôi động mà còn thấy một nền văn hóa giàu bản sắc, có sức sống mãnh liệt. Chính sự ổn định về mặt tinh thần và sự phát triển kinh tế dựa trên nền tảng di sản đã tạo nên một thế trận lòng dân vững chắc, góp phần giữ vững an ninh trật tự tại vùng đất phên dậu của Tổ quốc.

4. Kết luận

Tín ngưỡng Tứ phủ tại Lạng Sơn không chỉ là một hiện tượng tôn giáo đơn thuần mà là một thực thể văn hóa sống động, phản ánh lịch sử, tâm hồn và khát vọng của người dân xứ Lạng, đồng thời, đóng vai trò là nhịp cầu nối giữa truyền thống và hiện đại, giữa các dân tộc anh em trên mảnh đất biên thùy. Tác động của tín ngưỡng Tứ phủ đến kinh tế - xã hội Lạng Sơn hiện nay là một mối quan hệ biện chứng đa chiều, vừa là đòn bẩy tăng trưởng kinh tế, vừa là sợi dây kết nối xã hội, đồng thời là lá chắn bảo tồn văn hóa, giúp Lạng Sơn phát huy tối đa lợi thế để phát triển bền vững trong tương lai .

Tài liệu tham khảo

1. Ngô Đức Thịnh (2009), Đạo Mẫu ở Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội.

2. Ngô Đức Thịnh (2010), Lên đồng: Hành trình của thần linh và thân phận, Nxb. Thế giới.

3. Nguyễn Thị Yên (2012), Tín ngưỡng dân gian Tày, Nùng, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

4. UBND tỉnh Lạng Sơn (2018), Địa chí tỉnh Lạng Sơn, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật.

5. Lê Hồng Lý (2016), Lễ hội truyền thống của người Việt ở Bắc Bộ, Nxb. Khoa học Xã hội.

6. Trần Lâm Biền (2014), Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa tâm linh, Nxb. Mỹ thuật.

7. Nguyễn Văn Thành, Sự tiếp biến văn hóa trong tín ngưỡng thờ Mẫu tại vùng Đông Bắc, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4, 2015, tr.15-28.

8. Tạp chí Di sản Văn hóa, Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tại Lạng Sơn: Từ truyền thống đến hiện đại, số 2, 2024.