Từ khóa: Kết cấu hạ tầng; Dân tộc thiểu số; miền núi; Chính sách dân tộc.
Những tuyến đường giao thông đang ngày một nối dài, thúc đẩy giao thương hàng hóa giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với các trung tâm kinh tế lớn của cả nước1. Đặt vấn đề
Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giữ vị trí chiến lược trong phát triển đất nước. Nhưng do điều kiện địa hình bị chia cắt bởi núi cao, sông suối và khí hậu khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội (KT-XH) của vùng phát triển chậm hơn so với nhiều khu vực khác. Chi phí sản xuất và lưu thông hàng hóa cao, khả năng tiếp cận thị trường, giáo dục và dịch vụ y tế còn hạn chế.
Tại Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc, Đảng ta đã đề ra quan điểm cơ bản: “Ưu tiên đầu tư phát triển KT-XH các vùng dân tộc và miền núi, Trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng”.
Ngày 30/10/2019, tại Kết luận số 65-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, chính quyền và đoàn thể nhân dân các cấp: “Ưu tiên nguồn lực nhà nước để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KT-XH, nhất là đường giao thông, công trình thủy lợi, chợ, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa phải được kiên cố hóa; bảo đảm các hộ gia đình dân tộc thiểu số (DTTS) được sử dụng điện lưới quốc gia, dịch vụ phát thanh, truyền hình, viễn thông, tiếp cận công nghệ thông tin phục vụ nhu cầu sản xuất, sinh hoạt”.
Trên quan điểm lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển kết cấu hạ tầng KT-XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Nhờ đó, hệ thống giao thông, điện, trường học và cơ sở y tế từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển bền vững và mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, hệ thống kết cấu hạ tầng của khu vực này vẫn chưa đồng bộ, nhiều công trình chưa đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH. Do đó, nghiên cứu về sự cần thiết và vai trò của kết cấu hạ tầng KT-XH đối với phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi để tiếp tục thống nhất quan điểm ưu tiên đầu tư cho địa bàn này có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.
2. Sự cần thiết phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Kết cấu hạ tầng KT-XH được hiểu là tổng thể các công trình vật chất - kỹ thuật và hệ thống thiết chế cơ bản được xây dựng nhằm bảo đảm các điều kiện cần thiết cho hoạt động sản xuất, lưu thông, sinh hoạt và phát triển xã hội. Hệ thống này bao gồm các lĩnh vực chủ yếu: giao thông vận tải, thông tin - viễn thông, giáo dục, y tế, văn hóa và các dịch vụ công cộng thiết yếu khác.
Trong lý thuyết phát triển kinh tế, kết cấu hạ tầng được xem là nền tảng để thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Hạ tầng không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và dịch vụ mà còn giúp giảm chi phí sản xuất, tăng khả năng tiếp cận thị trường và thúc đẩy thu hút đầu tư. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, điện, nước, thông tin và các dịch vụ xã hội cơ bản là yếu tố quyết định để thúc đẩy phát triển KT-XH, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và bảo đảm ổn định xã hội. Ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng KT-XH đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuất phát từ những lý do sau:
Thứ nhất, một trong những đặc điểm nổi bật của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là địa hình đồi núi cao, chia cắt mạnh bởi hệ thống sông, suối và thung lũng, khiến việc xây dựng và phát triển hạ tầng giao thông, điện, nước… và thông tin gặp nhiều khó khăn, chi phí đầu tư lớn. Nhiều địa bàn miền núi hiện nay vẫn còn thiếu các tuyến giao thông kết nối với trung tâm kinh tế hoặc các khu vực phát triển. Trong điều kiện đó, sản phẩm nông nghiệp và hàng hóa của người dân khó tiếp cận thị trường, dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp và khó thu hút đầu tư. Do đó, phát triển kết cấu hạ tầng là điều kiện tiên quyết để phá vỡ sự cách trở về không gian phát triển của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Thứ hai, hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào DTTS vẫn cao hơn so với mức bình quân của cả nước. Theo số liệu của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, tỷ lệ nghèo của Việt Nam giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống 1% năm 2025, nhưng tỷ lệ nghèo trong đồng bào DTTS vẫn còn khoảng 11%. Trong bối cảnh đó, đầu tư phát triển hạ tầng được xem là giải pháp quan trọng để thúc đẩy giảm nghèo bền vững. Khi hệ thống giao thông được cải thiện, người dân dễ dàng tiếp cận thị trường, tiêu thụ sản phẩm và phát triển các hoạt động kinh tế mới như du lịch cộng đồng, dịch vụ và thương mại. Bên cạnh đó, hệ thống trường học, bệnh viện và các thiết chế văn hóa giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện điều kiện sống và tạo cơ hội phát triển cho thế hệ trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Thứ ba, phát triển kết cấu hạ tầng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của đất nước. Hệ thống hạ tầng giao thông, điện, nước, thông tin - viễn thông, giáo dục và y tế đóng vai trò tạo lập những điều kiện cơ bản để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc. Khi hạ tầng được đầu tư đồng bộ, khả năng kết nối giữa vùng miền núi với các trung tâm kinh tế được mở rộng, tạo tiền đề để các địa phương khai thác hiệu quả tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, phát huy giá trị văn hóa tộc người và phát triển du lịch, qua đó mở ra những động lực mới cho tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân vùng DTTS&MN.
3. Vai trò của kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đối với phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Một là, kết cấu hạ tầng KT-XH đóng vai trò then chốt, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu sản xuất vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đơn cử, giai đoạn 2021-2025, hệ thống đường giao thông nông thôn cả nước đạt tổng chiều dài 519.086 km, chiếm 85,22% chiều dài hệ thống đường địa phương; Trong đó, từ đường xã trở xuống dài 463.456 km, chiếm 75,93% toàn bộ chiều dài hệ thống đường địa phương. Khi hệ thống đường giao thông được mở rộng và nâng cấp, chi phí vận chuyển hàng hóa giảm, giúp sản phẩm nông lâm nghiệp của người dân dễ dàng tiếp cận thị trường. Phát triển giao thông cũng tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư vào các lĩnh vực như nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông - lâm sản và du lịch sinh thái. Nhờ đó, cơ cấu kinh tế của nhiều địa phương miền núi đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ và sản xuất hàng hóa.
Hai là, hệ thống hạ tầng giáo dục và y tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong nâng cao chất lượng đời sống của đồng bào các dân tộc. Theo kết quả điều tra 53 DTTS năm 2024, 99,1% các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có trạm y tế. Đa số các trạm y tế đã được xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố. Tỷ lệ xã có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia đạt 81,5%. Về trường học, cả nước có gần 17 nghìn trường học và 19,8 nghìn điểm trường tại các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. 79% số trường có đủ cơ sở vật chất đạt chuẩn. Tỷ lệ phòng học được xây dựng kiên cố của các trường đạt 90,2%. Khi trường học và cơ sở y tế được đầu tư xây dựng, người dân có điều kiện tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ xã hội cơ bản thiết yếu là học hành và chăm sóc sức khỏe.
Điện lưới và thông tin - viễn thông giúp người dân tiếp cận với các nguồn thông tin mới, nâng cao nhận thức và khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống. Theo điều tra, 99,4% thôn bản thuộc xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có điện, điện lưới quốc gia chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt 98,7%. Internet và kỹ thuật công nghệ thông tin phát triển khiến tỷ lệ hộ DTTS có điện thoại di động, điện thoại cố định, máy tính bảng đạt 95,1% (tăng 2,6% so với năm 2019), với phần đóng góp nhiều nhất từ điện thoại di động - thiết bị không thể thiếu trong cuộc sống ngày nay của người dân.
Ba là, phát triển hạ tầng văn hóa và du lịch giúp tạo điều kiện để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa DTTS. Hiện nay, 78,9% số xã vùng DTTS đã có nhà văn hóa. 90,8% các thôn vùng DTTS đã có nhà văn hóa hoặc nhà sinh hoạt cộng đồng. Thông qua các công trình văn hóa, trung tâm sinh hoạt cộng đồng và các tuyến du lịch, giá trị văn hóa truyền thống của DTTS được giới thiệu rộng rãi, góp phần nâng cao nhận thức của xã hội về sự đa dạng văn hóa của các dân tộc Việt Nam.
Bốn là, hệ thống hạ tầng giao thông và thông tin giúp tăng cường liên kết giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với các trung tâm kinh tế lớn của cả nước. Khi đường giao thông được kết nối đồng bộ, các địa phương miền núi có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị sản xuất và lưu thông hàng hóa. Liên kết vùng cũng giúp thúc đẩy phát triển du lịch, thương mại và dịch vụ, góp phần tạo thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
Năm là, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đặc biệt là khu vực biên giới có vai trò quan trọng trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh quốc gia. Phát triển hệ thống hạ tầng giao thông và thông tin giúp nâng cao năng lực quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng chức năng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biên giới. Đồng thời, khi đời sống KT-XH của người dân được cải thiện, tình hình an ninh trật tự ở địa phương cũng được củng cố, góp phần giữ vững ổn định chính trị và xã hội.
4. Một số kết quả phát triển kết cấu hạ tầng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Cụ thể hóa quan điểm ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thể hiện trong Nghị quyết số 24-NQ/ TW và Kết luận số 65-KL/TW, giai đoạn 2021 2025, hai Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới và Phát triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng cho khu vực này và đạt được những kết quả rất quan trọng.
Một là, về Chương trình Xây dựng nông thôn mới, đã có 87,3% số xã đạt tiêu chí 02 về Giao thông (tăng 6,3% so với cuối năm 2021); 98,1% số xã đạt tiêu chí 03 về thủy lợi và phòng, chống thiên tai (tăng 1,6% so với cuối năm 2021); 96,5% số xã đạt tiêu chí 04 về điện (tăng 1,7% so với cuối năm 2021); 87,5% số xã đạt tiêu chí 05 về trường học (tăng 7,3% so với cuối năm 2021); 85,7% số xã đạt tiêu chí 06 về cơ sở vật chất văn hóa (tăng 4,8% so với cuối năm 2021); 97% số xã đạt tiêu chí 07 về cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn (tăng 1,6% so với cuối năm 2021); 97% số xã đạt tiêu chí 08 về thông tin và truyền thông (tăng 1,6% so với cuối năm 2021). Nhờ đó, hết tháng 6/2025, cả nước có 6.084/7.669 xã (79,3%) đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có 237 xã đặc biệt khó khăn khu vực III thuộc Chương trình Phát triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. 1.508/3.513 thôn, bản, ấp (khoảng 43%) thuộc các xã đặc biệt khó khăn khu vực biên giới, vùng núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.
Hai là, đối với Chương trình Phát triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Nội dung đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất, đời sống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thuộc Dự án 4 đã triển khai hỗ trợ đầu tư: 6.018 công trình giao thông nông thôn; 8.673 km đường giao thông được nhựa hóa, bê tông hóa hoặc cứng hóa; 442 công trình cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất, kinh doanh; 90 trạm chuyển tiếp phát thanh xã; 1.787 nhà sinh hoạt cộng đồng; Cải tạo, sửa chữa 183 trạm y tế xã; Hỗ trợ trang thiết bị 118 trạm y tế xã; 225 trạm y tế xã và 629 công trình trường, lớp học đạt chuẩn; Cải tạo, xây mới 986 công trình thủy lợi nhỏ; Đầu tư 666 công trình hạ tầng quy mô nhỏ khác do cộng đồng đề xuất; Có 2.006 dự án đầu tư cơ sở hạ tầng thực hiện theo cơ chế đặc thù về đầu tư xây dựng; thực hiện duy tu, bảo dưỡng 5.484 công trình cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã, thôn đặc biệt khó khăn. Các công trình được đầu tư đã góp phần hình thành, kết nối cơ sở hạ tầng liên kết vùng, phục vụ dân sinh, sản xuất, lưu thông hàng hóa, thúc đẩy tăng cường tiếp cận dịch vụ xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân và thay đổi diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
5. Một số định hướng và giải pháp
Để phát huy hiệu quả vai trò của kết cấu hạ tầng KT-XH trong thúc đẩy phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, cần triển khai đồng bộ nhiều định hướng và giải pháp mang tính chiến lược, bảo đảm phù hợp với điều kiện đặc thù của từng địa phương.
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách đầu tư phát triển hạ tầng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo hướng ưu tiên nguồn lực cho các địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới. Việc phân bổ nguồn lực cần dựa trên các tiêu chí cụ thể về mức độ khó khăn, nhu cầu phát triển và khả năng lan tỏa của từng công trình hạ tầng. Tăng cường tính liên kết giữa các chương trình, dự án đầu tư nhằm bảo đảm sự đồng bộ giữa hạ tầng giao thông, điện, nước, giáo dục, y tế và các thiết chế văn hóa - xã hội.
Bên cạnh đó, đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông và hạ tầng số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ. Hệ thống giao thông thuận lợi sẽ giúp rút ngắn khoảng cách giữa vùng miền núi với các trung tâm kinh tế, tạo điều kiện cho lưu thông hàng hóa và phát triển các ngành kinh tế mới. Phát triển hạ tầng viễn thông, internet và nền tảng số giúp người dân tiếp cận thông tin, dịch vụ công và các cơ hội kinh tế trên môi trường số, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong phát triển KT-XH của khu vực.
Một giải pháp quan trọng khác là huy động đa dạng các nguồn lực đầu tư cho phát triển hạ tầng. Ngoài ngân sách nhà nước, cần đẩy mạnh xã hội hóa và khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp thông qua các hình thức hợp tác công - tư. Tạo dựng môi trường đầu tư minh bạch, ổn định sẽ góp phần thu hút các nguồn lực xã hội tham gia vào phát triển hạ tầng ở vùng đồng bào DTTS&MN.
Song song với đó, phát triển hạ tầng cần gắn chặt với yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Trong quá trình quy hoạch và xây dựng các công trình hạ tầng, cần chú trọng bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên, sử dụng hợp lý tài nguyên và hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường.
Cuối cùng, cần phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng các DTTS trong xây dựng, khai thác và quản lý các công trình hạ tầng. Sự tham gia tích cực của người dân không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng các công trình mà còn góp phần bảo đảm tính bền vững và phù hợp của các dự án phát triển đối với điều kiện thực tiễn của từng địa phương.
6. Kết luận
Kết cấu hạ tầng KT-XH giữ vai trò nền tảng trong quá trình phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ở Việt Nam. Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi càng trở nên cấp thiết. Đây không chỉ là giải pháp kinh tế mà còn là nhiệm vụ chính trị - xã hội quan trọng, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với các địa bàn khác của cả nước./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025, Báo cáo tổng kết Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025.
2. Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025, Báo cáo tổng kết Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025.
3. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), Kết quả điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2024. Nxb. Kinh tế - Tài chính.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Kết luận số 65 KL/TW ngày 30/10/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc.