Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Truyền thông Chuyển Đổi số

Khi di sản văn hóa được thể hiện bằng ngôn ngữ của công nghệ

Nguyễn Duy Dũng - Trần Quốc Hoàn - 1 giờ trước

(DTTG) - Chuyển đổi số đang mở ra cánh cửa mới để những giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số bước ra khỏi phạm vi bản làng, đến gần hơn với công chúng trong nước và quốc tế. Khi di sản văn hóa được số hóa và kể bằng ngôn ngữ của công nghệ, hành trình bảo tồn không chỉ dừng ở việc lưu giữ ký ức, đặc biệt còn tạo cơ hội để văn hóa tiếp tục được trao truyền, sáng tạo và phát huy giá trị trong thời đại mới.

Di sản văn hóa được số hóa và kể bằng ngôn ngữ của công nghệ, hành trình bảo tồn không chỉ dừng ở việc lưu giữ ký ức, đặc biệt còn tạo cơ hội để văn hóa tiếp tục được trao truyền, sáng tạo và phát huy giá trị trong thời đại mới
Di sản văn hóa được số hóa và kể bằng ngôn ngữ của công nghệ, hành trình bảo tồn không chỉ dừng ở việc lưu giữ ký ức, đặc biệt còn tạo cơ hội để văn hóa tiếp tục được trao truyền, sáng tạo và phát huy giá trị trong thời đại mới

Tiến sĩ Phan Văn Hùng, nguyên Thứ trưởng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo), Phó Chủ tịch Hội người Cao tuổi Việt Nam chia sẻ: Việt Nam là quốc gia thống nhất, đa dân tộc với 54 thành phần dân tộc cùng sinh sống, trong đó có 53 dân tộc thiểu số (với hơn 14 triệu người, chiếm khoảng 14,7% dân số của cả nước) tạo nên một kho tàng di sản văn hóa vô cùng phong phú. Mỗi cộng đồng đều sở hữu tiếng nói, chữ viết, lễ hội, dân ca, dân vũ, nghề thủ công, trang phục, tri thức địa phương và những phong tục đặc sắc được tích lũy qua nhiều thế hệ. Chính sự đa dạng ấy đã tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng và trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển đất nước.

Tuy nhiên, trước tác động của quá trình đô thị hóa, toàn cầu hóa và sự thay đổi nhanh chóng của đời sống xã hội, nhiều di sản văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ mai một. Không ít nghệ nhân cao tuổi dần một ít đi vì do tuổi cao qua đời mà chưa kịp truyền dạy hết vốn tri thức quý báu. Một số ngôn ngữ dân tộc thiểu số ít người suy giảm số lượng người sử dụng. Nhiều nghề thủ công truyền thống thiếu lớp kế cận. Một số lễ hội, làn điệu dân ca hay nghi lễ cổ truyền chỉ còn tồn tại trong ký ức của những người cao tuổi.

Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số mở ra một hướng tiếp cận mới cho công tác bảo tồn di sản văn hóa. Nếu trước đây việc lưu giữ chủ yếu dựa vào sách, băng ghi âm hay phim tư liệu, thì hiện nay các công nghệ số cho phép ghi lại gần như toàn bộ đời sống của di sản văn hóa bằng hình ảnh độ phân giải cao, âm thanh chất lượng tốt, dữ liệu ba chiều, thực tế ảo, thực tế tăng cường và các nền tảng điện toán đám mây. Điều này giúp di sản văn hóa được lưu giữ lâu dài, đồng thời còn có thể tiếp cận dễ dàng hơn với công chúng.

Thực tế những năm gần đây cho thấy, nhiều địa phương đã từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu số về di sản văn hóa dân tộc thiểu số. Các hiện vật, nhạc cụ, trang phục truyền thống, lễ hội, tri thức dân gian, làn điệu dân ca và nghệ thuật trình diễn được số hóa, tạo thành những kho tư liệu có giá trị phục vụ nghiên cứu, giáo dục và quảng bá. Nhiều bảo tàng cũng phát triển hình thức tham quan trực tuyến, giúp người dân và du khách có thể tiếp cận các bộ sưu tập mà không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý.

Bên cạnh đó, không gian số còn tạo điều kiện để những giá trị văn hóa vốn chỉ tồn tại trong phạm vi bản làng có cơ hội lan tỏa rộng rãi hơn. Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, nghệ nhân ở vùng cao, miền núi có thể giới thiệu điệu múa truyền thống, hướng dẫn dệt thổ cẩm, biểu diễn nhạc cụ dân tộc hoặc chia sẻ những câu chuyện về văn hóa của dân tộc mình đến hàng triệu người thông qua các nền tảng số. Đây là điều mà trước đây rất khó thực hiện.

Đặc biệt, thế hệ trẻ đang trở thành lực lượng quan trọng trong hành trình đưa di sản lên không gian số. Nhiều bạn trẻ là người dân tộc thiểu số đã chủ động quay video, xây dựng kênh truyền thông, sáng tạo nội dung về ngôn ngữ, ẩm thực, trang phục, lễ hội và đời sống bản làng. Bằng ngôn ngữ hiện đại, hình ảnh sinh động và cách kể chuyện gần gũi, họ đã giúp văn hóa truyền thống tiếp cận công chúng theo một cách mới, hấp dẫn và hiệu quả hơn.

Trong thời đại công nghệ số, cùng sự biến động của thời gian, hoàn cảnh sống cùng với những tác động trong quá trình hội nhập… đã đặt ra nhiều thách thức trong công tác bảo tồn, đòi hỏi phải có một chiến lược phù hợp để các giá trị này có thể phát huy hiệu quả tối đa trong đời sống đương đại
Trong thời đại công nghệ số, cùng sự biến động của thời gian, hoàn cảnh sống cùng với những tác động trong quá trình hội nhập… đã đặt ra nhiều thách thức trong công tác bảo tồn di sản văn hóa, đòi hỏi phải có một chiến lược phù hợp để các giá trị này có thể phát huy hiệu quả tối đa trong đời sống đương đại

Còn Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thị Thu Hà, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên cho rằng: Xét ở quan điểm khoa học phát triển, kết nối di sản với nền tảng số còn tạo ra giá trị kinh tế. Những sản phẩm thổ cẩm, nhạc cụ dân tộc, dược liệu, sản phẩm OCOP hay đặc sản vùng cao, miền núi có thể được quảng bá và tiêu thụ trên các sàn thương mại điện tử. Các tour du lịch cộng đồng, trải nghiệm lễ hội, học nghề truyền thống, khám phá văn hóa địa phương cũng được giới thiệu qua các nền tảng trực tuyến, góp phần mở rộng thị trường và tạo sinh kế cho người dân.

Chuyển đổi số cũng giúp nâng cao hiệu quả quản lý di sản. Cơ sở dữ liệu tập trung cho phép các cơ quan quản lý theo dõi tình trạng bảo tồn, cập nhật thông tin về nghệ nhân, kiểm kê hiện vật, lập hồ sơ di sản và xây dựng các chương trình bảo tồn khoa học hơn. Đồng thời, việc kết nối dữ liệu giữa các địa phương cũng tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu, hợp tác và chia sẻ nguồn lực.

Tuy nhiên, số hóa không đồng nghĩa với việc di sản chỉ tồn tại dưới dạng dữ liệu. Giá trị cốt lõi của văn hóa vẫn nằm trong cộng đồng, những con người đang thực hành, gìn giữ và truyền dạy di sản mỗi ngày. Một điệu hát chỉ thực sự sống khi còn có người cất tiếng hát; một lễ hội chỉ còn ý nghĩa khi cộng đồng vẫn xem đó là một phần của đời sống tinh thần; một nghề thủ công chỉ được bảo tồn khi còn người làm nghề và có thị trường cho sản phẩm. Vì vậy, nền tảng số cần được xem là công cụ hỗ trợ chứ không thể thay thế môi trường văn hóa nguyên gốc.

Và một thách thức khác là khoảng cách số giữa các vùng miền. Nhiều bản làng vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn vẫn còn hạn chế về hạ tầng viễn thông, thiết bị công nghệ và kỹ năng số. Không ít nghệ nhân, những kho tàng sống của di sản chưa quen với việc sử dụng điện thoại thông minh và các nền tảng trực tuyến. Nếu không có sự hỗ trợ phù hợp, họ sẽ khó tham gia vào tiến trình chuyển đổi số…

Theo đó, để kết nối hiệu quả di sản văn hóa dân tộc thiểu số với nền tảng số, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết là tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa, ưu tiên số hóa các loại hình có nguy cơ mai một và các tri thức địa phương đặc sắc. Song song với đó là đào tạo kỹ năng số cho cán bộ văn hóa, nghệ nhân và thanh niên địa phương; khuyến khích cộng đồng tham gia trực tiếp vào quá trình sưu tầm, số hóa và kể chuyện về chính di sản văn hóa của mình.

Cùng với đó, cần thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp công nghệ, các viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức văn hóa trong việc phát triển các nền tảng số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo, thực tế tăng cường và dữ liệu lớn để nâng cao trải nghiệm của người dùng. Mỗi sản phẩm số không chỉ cần đẹp về hình thức, đồng thời còn phải bảo đảm tính xác thực, tôn trọng giá trị gốc và quyền sở hữu trí tuệ của cộng đồng.

Trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, di sản số hoàn toàn có thể trở thành nguồn tài nguyên quan trọng. Khi được đầu tư bài bản, những kho dữ liệu về văn hóa dân tộc thiểu số sẽ là nền tảng để phát triển giáo dục, nghiên cứu, du lịch, truyền thông, thiết kế sáng tạo và nhiều ngành kinh tế văn hóa khác. Vì vậy, giá trị của di sản văn hóa sẽ được bảo tồn, đặc biệt còn được chuyển hóa thành động lực phát triển.

Và đặc biệt là ngày càng có nhiều người trẻ lựa chọn quay về với cội nguồn bằng chính công nghệ hiện đại. Họ không xem chuyển đổi số là sự đối lập với truyền thống mà là cây cầu nối giữa quá khứ và tương lai. Những chiếc điện thoại thông minh, máy quay kỹ thuật số hay nền tảng trực tuyến, nếu được sử dụng đúng cách, sẽ trở thành người kể chuyện mới cho những giá trị văn hóa đã được gìn giữ qua hàng trăm năm.

Trong quá trình phát triển mạnh mẽ của thời đại số, điều cần bảo tồn không chỉ là hình ảnh của một lễ hội, âm thanh của một điệu dân ca hay màu sắc của một tấm thổ cẩm, đồng thời còn là tinh thần, ký ức và tri thức mà các thế hệ đã gửi gắm trong đó. Công nghệ có thể lưu giữ dữ liệu, nhưng chỉ cộng đồng mới có thể giữ được linh hồn của di sản văn hóa.

Số hóa không chỉ là một xu hướng cộng nghệ mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm sự tồn tại vĩnh cửu của di sản văn hóa trong môi trường số
Số hóa không chỉ là một xu hướng cộng nghệ mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm sự tồn tại vĩnh cửu của di sản văn hóa trong môi trường số

Vì vậy, kết nối di sản văn hóa dân tộc thiểu số với nền tảng số, không đơn giản là một bước tiến về công nghệ. Đó là hành trình đưa những giá trị truyền thống bước vào đời sống đương đại bằng một diện mạo mới, để di sản văn hóa được gìn giữ trong ký ức hay bảo tàng, mà sẽ tiếp tục hiện diện trong từng cú chạm trên màn hình, từng bài học ở trường, từng sản phẩm sáng tạo và từng câu chuyện được lan tỏa đến cộng đồng trong nước và bạn bè quốc tế. Khi công nghệ đồng hành cùng văn hóa và cộng đồng vẫn là chủ thể của di sản, những giá trị quý báu của các dân tộc thiểu số sẽ có thêm sức sống mới, góp phần làm giàu bản sắc văn hóa Việt Nam và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững trong kỷ nguyên số./.